Sách xưa nói: “Tiên thiên là gốc của sinh mệnh người ta, hậu thiên là nguồn sinh hoá của con người”. Câu nói đó, y học cổ truyền đã xác định tiên thiên (1) và hậu thiên (2) là hai bộ phận cơ bản của sự sống của con người. Hai bộ phận đó có mối quan hệ hỗ trợ rất khăng khít với nhau, nếu thiếu đi một bộ phận thì người ta không thể sống được. Nói hậu thiên là bao gồm tất cả các tạng phủ và các tổ chức dà, thịt, gân, xương, máu và tân dịch.v.v. nhưng bộ phận quan trọng nhất của hậu thiên là tỳ vị Hải Thượng Lãn Ông nói: “Tỳ vị là cơ quan sinh hoá của hậu thiên, đứng đầu các cơ quan của con người và cũng là nguồn gốc của bách mạch, cái bề của thuỷ cốc”, (thuỷ cốc là đồ ăn thức uống). Năm tạng, sáu phủ đều được sự chuyển vận và tưới nhuần của nó, để sinh tinh, sinh huyết, thấm nhuần ra kinh mạch, điều dưỡng vinh vệ, đều nhờ vào trung châu đó (trung châu là chỉ vào tỳ vị). Sách lại nói: “Vị bại thì tinh bị tổn thương làm cho dương sự suy. Vị mạnh thì thận đầy đủ mà tinh khí vượng” và “Không có thuỷ cốc thời hình thể không thể khoẻ mạnh được”, về mạch học cũng nói: “Có vị khí thời sông, không có vị khí thời chết” (3). Do đó co tho noi' Ty VỊ la cai goc cua khí huyêt cũng như thận là cái nguồn của thuỷ hoả, đều là căn bản của con người. Vì vậy nhiều bệnh phát sinh mà nguyên nhân cơ bản đều là do tỳ và thận.
Từ những luận điểm đó, giúp ta thây được vị trí vô cùng quan trọng của tỳ vị. Trên thực tế lâm sàng, càng hiểu rõ thêm về ý nghĩa đó. Thông qua điều lý tỳ vị mà chữa được nhiều bệnh tật có kết quả tốt.
Người xưa nói: Vị là cái bể chứa thủy cốc (Thái Thượng). Vị là nơi nạp cốc, chứa đựng đồ ăn, thức uống.
Chức năng của tỳ vị thời có nhiều, nhưng chủ yếu có hai: Một là giúp vị làm chức năng tiêu hóa (ty năng ma côc) (4). Hai là đổ ăn, thức uổng sạu khi đa tiêu hoá biến thành chất dinh dưỡng thời tỳ làm nhiệm vụ chuyển vận các chất đó đi nuôi cơ thê. “Tỳ vi vị dĩ hành tân dịch” nghĩa là tỳ làm chức năng chuyển vận tinh dịch của vị, và “Tỳ khí tán tinh” (5) cũng có ý nói là tỳ vận hành tinh khí đi nuôi cơ thể.
Ngoài hai chức năng chủ yếu ấy ra, tỳ còn có các chức năng khác như: ích khí, sinh khí, thông huyết chủ cơ nhục, hoá đờm, hoá thấp v.v...
2. Đặc tính của tỳ vị và mối quan hệ hỗ tương (6)
Tỳ vị theo học thuyết ngũ hành thời đều thuôc hành thổ, nhưng đặc tính lại khác nhau. ọ
a) Đặc tính của tỳ vị:
Tỳ thuộc tạng, thuộc lý, là âm, bát quái thuộc quẻ khôn, thuộc kinh thái âm thấp thổ là âm thổ.
VỊ thuộc phủ, thuộc biểu, là dương, bát quái thuộc quẻ cẩn, thuộc kinh dương minh táo kim, là dương thổ.
Đó là những đặc tính riêng biệt của tỳ vị, cũng là mối quan hệ và tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Sách Nội kinh nói: “Tỳ hý tao nhi ô thấp, vị hý thấp nhi ô táo” tức là tỳ ưa táo mà ghét thấp, vị ưa thấp mà ghét táo. Đông Viên nói: “Vị yi tỳ chi cương, tỳ nải vị chi nhu” nghĩa là vị là cương của tỳ, tỳ là nhu của vị. Đường Đông Xuyên nói: “Vị thọ lấy táo nạp vật, tỳ thổ lấy thấp hoá khi’. Mấy luận điểm đó nói rõ những đặc điếm về sinh lý của tỳ vị có ý nghĩa rất sâu sắc chỉ đạo thực tế lâm sàng.
b) Mối quan hệ hỗ tương của tỳ vị.
Qua đặc điểm trên, ta thấy tỳ vị dường như mâu thuẫn nhau, tương phản (7) nhau như: Tỳ thuộc tạng, vị thuộc phủ; tỳ thuộc lý thuộc âm, vị thuộc biểu, thuộc dương; tỳ chủ vận, vị chủ nạp; tỳ là thấp thổ, vị là táo thổ; tỳ khí thường thăng, vị khí thường giáng V.V.. (8). Do đó, ta thấy thuộc tính, cơ nàng, chức năng và phương hướng vận động của chúng đốĩ lập nhau, mâu thuẫn nhau. Nhưng nó lại có quan hệ tương thành. Ví như nói táo và thấp, thời vị táo có thể chê tỳ thấp; tỳ thấp có thể giúp vị táo. Nếu tỳ khí không tiết thời vị táo mà không ăn đựơc, hoặc ăn ít mà không tiêu. Như vậy là hai mặt'táo thấp có thể hỗ trợ nhau,
ức chế lẫn nhau để tạo ra thế cân bằng về sinh lý. Vấn đề vận và nạp cũng thế. Có nạp phải có vận, hai mặt đó phải cân bằng, nếu nạp nhiều vận ít, nạp ít vận nhiều, hoặc là chỉ nạp không vận, chỉ vân không nạp đều là trạng thái bệnh lý. Vấn đề thăng giáng cũng thế, có thăng phải có giáng thòi khí mới có thăng bằng cơ thể mới khoẻ mạnh. Thăng nhiều giáng ít, thăng ít giáng nhiều, hoặc chỉ thăng không giáng, chỉ giáng không thăng đều sinh tật bệnh.
Do đó ta thấy tỳ vị đều thuộc thổ. Tuy đặc tính khác nhau, đối lập mâu thuẫn nhau, nhưng nó lại kết hợp chặt chẽ với nhau, hỗ trợ ức chê lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất, đảm bảo cho cơ the người ta tiếp thu được tinh hoa của thuỷ côc. Môi quan hệ đó rất phức tạp tinh vi và rất tài tình theo một quy luật nhất định, đã tương phản lại tương thành, đã mâu thuẫn lại thông nhất.
3. Mối quan hệ giữa tỳ vị với các tạng phủ khác:
Một đặc điểm của lý luận y học cổ truyền là quan điểm chỉnh thể, tức là các bộ phận trong cơ thê người ta là một khối thống nhất và có môì quan hệ hô tương vối nhau rất mật thiết, một bộ phận nào đó có sự mất cân đốì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ. Mối quan hệ đó là căn cứ vào học thuyết ngũ hành. Ngưòi ta đem tạng phủ theo chức năng và mối quan hệ chung, chia làm 5 đôi. Mỗi đôi có một tạng, một phủ. Đem 5 đôi đó, căn cứ vào tính chất mà phân phối vào ngũ hành, mỗi hành thuộc một đôi như: Tâm và tiểu tràng thuộc hành hoả,
can và đởm thuộc hành mộc, phế và đại tràng thuộc hành kim, tỳ và vị thuộc hành thổ. Trong ngũ hành có các mốỉ quan hệ sinh, khắc, chế, hoá, tương thừa, tương vũ. Căn cứ vào đó mà thiết lập các môi quan hệ của các tạng phủ với nhau.
Như vậy tỳ và vị đều thuộc hành thổ. Hải Thượng Lãn Ông nói: “Ngũ hành đều thuộc thổ, muôn vật đều về tỳ”. Do đó, khác với các tạng phủ khác, tỳ vị có môì quan hệ đặc biệt vối các tạng phủ và các bộ phận khác như sau:
a) Mối quan hệ với tạng can:
Can thuộc hành mộc, tỳ vị thuộc hành thổ, như vậy quan hệ giữa tạng can với tỳ vị là mối quan hệ tương khắc (mộc khắc thổ) ma tỵ là tạng bị khắc. Sách nói: “can bệnh truyền tỳ”. Trên rầm sang bệnh tật do mộc khắc thổ thường thấy như: Hiếp thông, vị uyển thống, ố tâm, ẩu thổ, ái khí, phiếm toan ăn uống giảm sút, đại tiện không đều, mạch huyền v.v... Đó là tỳ vị suy nhược, thời can mộc thừa khắc sinh ra. về phép chữa, phải bổ thổ bình can. Nên thường dùng các bài: Tiểu sài hồ thang, tiêu giao tán, sơ can hoà vị tiễn, hoà vị nhị, trần thang, nhị truật, nhị trần thang v.v... Tuỳ bệnh mà dùng mà thêm bớt linh hoạt.
b) Mối quan hệ với tạng phế:
Tạng phế thuộc hành kim. Vậy quan hệ giữa hai tạng tỳ với phế là quan hệ tương sinh (thổ sinh kim) là mốì quan hệ mẫu tử (tỳ là mẹ, phế là con). Y học cổ truyền dùng phương pháp bồi bổ tỳ vị để chữa
bệnh phê gọi là phép “bồi thổ sinh kim”, “tử hư bổ mẫu” (tạng con suy phải bổ tạng mẹ). Nhưng không phải tất cả các bệnh phế đều dùng phép bổ tỳ, mà chỉ khi nào bệnh phê có hên quan đến tỳ vị gọi là “tử đạo mẫn khí’ (con chiếm đoạt khí mẹ) như: Bệnh phế mãn tính^ơ thể suy nhược, hoặc bệnh phế xuất hiện chứng trạng tỳ vị hư suy như ăn uống kém sút, người gầy, ỉa chảy v.v... mới dùng phép bồi thổ sinh kim. Trường hợp đó, thường dùng bài Lục quân tử thang, bài DỊ công tán, bài Sâm linh bạch truật tán thêm cáo vị chữa phế. Trẻ con bị bệnh ho lâu, hoặc ho gà lâu ngày người gầy còm, kém ăn, ỉa lỏng, mỏi mệt ủ rũ, nhiều đờm dãi, thường cho uông bài Lục quân tử thang hay Dị công tán thêm vị chữa ho rất hay.
c) Mối quan hệ với tạng thận:
Tạng thận thuộc hành thuỷ, mốì quan hệ giữa tạng thận với tỳ vị là mổì quan hệ tương khắc - thô khắc thuỷ. Nhưng trên lâm sàng bệnh thổ vượng khắc thuỷ ít thấy mà phần nhiều là tỳ hư thòi thô không đủ sức chế thuỷ, thận thuỷ tràn lên vũ thổ, thường xuất hiện các chứng trạng thuỷ thũng (9), phúc thuỷ (10), suyễn khái (11), đờm suyễn .v.v... Loại bệnh này phải dùng phép kiện tỳ là phương pháp đặc biệt quan trọng, vì tỳ khoẻ mạnh mối làm đựơc chức năng kiện vận thời mới có thể chê được thuỷ, thuỷ sẽ không tràn lên được.
Môì quan hệ tỳ thận còn có vị trí rất quan trọng nữa là. Sách nói: “tỳ là căn bản của ngũ tạng; thận là
hoá nguyên (12) của ngũ tangf tỳ là hoá cơ của hậu thiên, thận là nguyên khí của tiên thiên”. Vì vậy, thận khí hư thời tỳ khí sẽ nhược, và tỳ khí nhược thời thận khí sẽ hư. Hải Thượng Lãn Ông nói: “Có khí bổ thận không bằng bô’ tỳ, có khí bổ tỳ khôgn bằng bổ thận” là ý nghĩa như vậy. Sách Phùng Thị nói: “Thuỷ không có thổ thời dựa vào đâu mà phát sinh. Đất không có nưốc thời khô cằn làm sao mà sinh vật sống được. Cho nên đất phải có nước mối có mầu mỡ”. “Thuỷ làm nên công hoá dực của thổ, thuỷ thổ cũng nương tựa vào nhau”.
d) Mối quan hệ với tạng tâm:
Tạng tâm thuộc hoả, là thiếu âm quân hoả. Quan hệ giữa tỳ vị với tạng tâm là môỊ quan hệ tương sinh (hoả sinh thổ). Nhưng tâm hoả quá vượng cũng có thể lấn át thổ làm ảnh hưỏng đến công năng tiêu hoá của vị. Biểu hiện kém ngủ, ăn ít hoặc không muôn ăn. Phép chữa phải: Tả quân hoả để sinh vị thổ. Nếu như tâm hư làm cho tỳ khí hư sinh ra hoảng hốt, không muốn ăn, thời phải bổ tâm kiệm phù tỳ (13).
đ) Mối quan hệ với tạng tâm:
Mạch môn thuộc thiếu dương tướng hoả, quan hệ với tạng tỳ cũng là quan hệ tương sinh - hoả sinh thổ. Mạch môn hoả suy cũng làm ảnh hưỏng đến tỳ, xuất hiện chứng trạng tý dương hư như: An uống giảm sút, đau bụng, ỉa lỏng.v.v... phép chữa phải bổ mạch môn hoả như bài Bát vị hoàn.
Ngoài mổì quan hệ với các tạng phủ trên, tỳ vị còn có môì quan hệ rất trọng yếu đối với tất cả các bộ phận, các tổ chức trong toàn bộ cơ thể. Đó là vấn đề vận chuyển các chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể. Hải Thượng Lãn Ông nói: “Thuỷ cốc vào vị trí, sái trần (14) ỗ lục phủ mà sinh khí, điều hoà ở ngũ tạng mà sinh huyết, đi vào bách mạch; xướng ra tứ chi, sung ồ cơ nhục; nhờ có sự nuôi dưỡng đó thời cơ thể người ta mối có thể sinh tồn và phát triển được”.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin mới nhất về dịch NCOV 2019 trên Thế giới và Việt Nam
Cách pha dung dịch rửa tay khô theo chuẩn WHO
Những bệnh mùa đông xuân có thể xuất hiện cùng dịch nCoV 2019
WHO giải đáp các thắc mắc vè dịch nCoV 2019
Những thông tin dịch bệnh nCoV 2019
Virus Corona là gì? những kiến thức về virus Corona bạn nên biết
Làm thế nào để loại bỏ những nguy hại từ virus nCoV-2019?
Thai phụ nhiễm nCoV-2019 có lây sang con không?
Coronavirus có thể sống đến 9 ngày ngoài môi trường?
Chữa cảm gió, cảm lạnh thật đơn giản, hiệu quả
Cách chữa khỏi đau lưng đơn giản, hiệu quả bạn nên biết
Xoa bóp bấm huyệt chữa khỏi đau đầu, hen phế quản
Bệnh lý tim mạch tăng cao trong dịp tết
Xoa bóp bấm huyệt chữa các chứng đau nhức
Hướng dẫn chi tiết các thủ thuật xoa bóp bấm huyệt chữa bệnh
Chữa nấc cụt đơn giản hiệu quả
Viêm họng, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Bệnh loãng xương, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Bệnh gout, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Những bệnh lý nguy hiểm ở cột sống
Sức khỏe tinh thần ảnh hưởng như thế nào đến nhan sắc người phụ nữ?
Nhồi máu cơ tim, nguyên nhân, triệu chứng và điều trị
Giải pháp phòng chống ung thư gan
Rối loạn giấc ngủ, biện pháp và khắc phục
Đau thần kinh tọa, giải pháp và điều trị
Sức khỏe nam khoa và những điều nên biết
Củ quả mọc mầm ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
HIV lây từ mẹ sang con như thế nào?
Uống nhiều nước không tốt cho sức khỏe, thế nào là uống nước đúng cách?
Tác dụng chữa bệnh của củ gừng
Bệnh sốt xuất huyết và cách phòng tránh
Chứng ê buốt răng, nguyên nhân và phòng tránh
Bệnh ngáy ngủ có ảnh hưởng đến sức khỏe không?
Bệnh lang ben và cách điều trị
Xử lý khi trẻ bị co giật và những lưu ý
Chế độ ăn cho người mắc bệnh Gout
Cách điều trị mụn cơm, mụn cóc
Làm trắng răng ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe
Bệnh Ebola nguy hiểm như thế nào?
Thừa cân béo phì, nguyên nhân và phòng tránh
U xơ tuyến vú, nguyên nhân và cách điều trị
Bệnh tiểu đường làm tăng nguy cơ ung thư
Những biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường
Tiểu đường gây tổn thương hệ thần kinh, gây liệt dương
Dấu hiệu bệnh tiểu đường bạn nên biết
Bệnh tiểu đường, nguyên nhân và cách điều trị
Thuốc ức chế miễn dịch trong bệnh dị ứng và tự miễn
Viêm da cơ địaCác phản ứng quá mẫn với Vacxin
Chẩn đoán và xử lý cơn hen phế quản
Loét dạ dày, tá tràng - nguyên nhân và cách điều trị
Những điều cần biết khi dùng thuốc qua đường tiêu hóa
Trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ có thể gây tử vong
Rối loạn tiêu hóa ở trẻ sơ sinh
Bệnh loét dạ dày tá tràng mang tính di truyền
Nhận biết ung thư tiền liệt tuyến
Phát hiện sớm đột quỵ và những việc cần làm
Dự phòng điều trị cảm sốt sau mưa
Ngộ độc thực phẩm trong mùa hè
Phòng bệnh người cao tuổi trời nắng nóng
Phòng ngừa đuối nước trong mùa hè
Tác dụng phụ của thuốc tránh thai
Tác hại do lạm dụng thuốc tránh thai khẩn cấp
Phát tướng, tăng cân nhanh, nguyên nhân và dự phòng
Bệnh ù tai, nguyên nhân và cách điều trị
Viêm tai giữa, nguyên nhân và cách điều trị
Dự phòng và điều trị biến chứng do bệnh quai bị
Viêm da dị ứng, nguyên nhân và cách điều trị
9 Cách giảm huyết áp không dùng thuốc
BỆNH SỞI CHẠY HẬU, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ
BẠCH CẦU CẤP- NGUYÊN NHÂN- TRIỆU CHỨNG- ĐIỀU TRỊ
BỆNH HIV VÀ QUÁ TRÌNH MANG THAI
CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
CHỬA TRỨNG, CHẤN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
CƠN NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRẺ EM
ĐIỀU TRỊ BỆNH XUẤT HUYẾT GIẢM TIỂU CẦU CHƯA RÕ NGUYÊN NHÂN
ĐIỀU TRỊ VÀNG DA TĂNG BILIRUBIN TỰ DO Ở TRẺ SƠ SINH
ĐIỀU TRỊ MẤT NƯỚC Ở TRẺ SƠ SINH
KIỂM TRA XÉT NGHIỆM MÁU VÀ CÁC CHỈ SỐ
NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở TRẺ SƠ SINH
NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU PHOSPHO HỮU CƠ
THIỂU NĂNG TUYẾN THƯỢNG THẬN CẤP
TRIỆU CHỨNG HỌC LÂM SÀNG THẦN KINH
VÔ SINH, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC XÉT NGHIỆM
SỐT KHI MANG THAI, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ
SUY THAI, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
TẮC MẠCH ỐI, CHẨN ĐOÁN, PHÒNG BỆNH
TỔN THƯƠNG LÀNH TÍNH CỔ TỬ CUNG
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH