Chủ khí của mùa xuân, “Phong” là đầu của trăm bệnh.
Phong là hiện tượng của không khí chuyển động. Bình thường thì “gió dịu, trời ấm, trăm hoa đua nở sắc hương ngạt ngào” và gió dịu hoà làm con người khoẻ mạnh. Nếu khí hậu thái quá hoặc bất cập thì “phong” lại là nhân tố gây bệnh và trở thành “Tặc phong”.
Con người sống trong thiên nhiên, không giây phút nào tách rời không khí. Gió mùa xuân dịu ấm, gió mùa hạ mạnh xua tan nóng nực, gió mùa thu mát mẻ, gió mùa đông lạnh giá. Tuy đó là hiện tượng chính thường, nhưng phong cùng với năm khí: Hàn, thử, táo, thấp, hoả; tùy lúc, tùy nơi mà phối hợp tác động, cho nên phạm vi gây bệnh của phong rộng rãi như: Phong phối hợp với hàn sẽ thành phong hàn, phong phối hợp với thấp sẽ thành phong thấp, phong phối hợp với táo sẽ thành phong táo, phong phối hợp với hoả sẽ thành phong hoả. Do đó người xưa nói phong là đầu của trăm bệnh, vì phong đứng đầu của lục dâm.
Về biểu hiện chứng trạng của phong trên lâm sàng, sách Nội kinh viết: “Hành động của phong nhanh chóng, dễ phát sinh biến hoá”. Phong tà xâm phạm vào cơ thể người ta phát sinh ra nhiều bệnh biến chứng trạng khác, khó kế hết như: Khi phong tà xâm phạm thì biểu hiện các chứng trạng ngoại cảm như phát sốt, sợ gió, tự ra mồ hôi, hoặc có thêm các chứng ho, nghẹt mũi gọi là “thương phong”. Phong phối hợp với thấp, khắp người đau nhức gọi là “phong thấp”; phong phối hợp với nhiệt, trong người bứt rứt, khát nước, không sợ lạnh gọi là “phong ôn”....các chứng trạng đó đều đại biểu cho ngoại cảm nhiệt bệnh, bệnh thế tiến hành tương đối nhanh, biến hoá phức tạp, người xưa nhận thấy rằng các chứng trạng của phong hay phát ra trong mùa xuân, cho nên nói phong là chủ khí của mùa xuân.
Mặt khác một số bệnh phát sinh bên trong cơ thể cũng gọi là phong như: Các hiện tượng đầu choáng mắt hoa, ngón tay tê dại, sợ sệt, mất ngủ...gọi là “ can phong”; đột nhiên mắt tối sầm ngã lăn, méo mồm, lệch mắt, tê liệt nửa người, gọi là “trúng phong”; trẻ em lên cơn co giật tay chân, người uốn cong gọi là “kinh phong”... các bệnh phát ra ở bên trong ấy gọi là nội phong, một mặt là vì bệnh phát ra hoặc bệnh thế tiến hành đều rất nhanh chóng như gió.
Thiên chí chân yếu đại luận sách Tố Vấn: “Các chứng trạng đầu chóng mắt hoa, run rẩy co giật đều thuộc tạng can mà can lại chủ phong, những thứ phong ấy gọi là nội phong, còn những trường hợp bị phong tà xâm phạm phần biểu gọi là “ngoại phong”.
Chủ khí của mùa đông, khí hậu lạnh giá.
Hàn là hiện tượng nhiệt độ của không khí xuống thấp, khí hậu lạnh giá, thường xuất hiện trong mùa đông, nên gọi “hàn” là chủ khí của mùa đông. Khi hàn tà xâm nhập vào phần cơ biểu, sẽ thấy các chứng trạng rét lạnh, phát nóng, không mồ hôi, đầu nhức, người đau...xâm phạm vào trường vị, sẽ thấy các chứng trạng bụng sôi, ỉa chảy, bụng đau...
Mặt khác, một số cơ quan tạng phủ trong cơ thể bị suy giảm, dương khí thiếu hụt mà phát ra các chứng bệnh cũng gọi là hàn như: Các chứng trạng miệng nôn, ỉa chảy ra nưốc trong, tay chân lạnh, mạch trầm trì, mắt không có thần, sắc mặt trắng xanh... gọi là trúng hàn; Hoặc các chứng trạng đái trong và nhiều, ỉa lỏng, liệt dương, chân lạnh, tinh thần mệt mỏi... gọi là “hạ hàn”...
Trúng hàn và hạ hàn đều là bệnh do dương khí hư mà sinh ra bệnh hàn ở trong thuộc nội hàn còn ngoại cảm hàn tà thuộc ngoại hàn.
Chủ khí của mùa hạ, khí hậu nóng nực.
Mùa hạ nhiệt độ lên cao khí trời nóng nực, gọi là “thử khí”. Khi con người không thích ứng được sẽ phát sinh “thử bệnh”. Cho nên “thử” là chủ khí của mùa hạ.
Phạm vi của thử bệnh rất rộng như: Các chứng đầu nhức, phát sốt, bứt rứt tâm phiền, miệng khát tự ra mồ hôi, mạch hồng đại mà hư gọi là “thương thử” đó là gốc của thử bệnh. Nếu như trong tháng nóng nực, mà thích mát, nằm ngủ ngoài trời, phong hàn xâm phạm vào cơ thề phần biểu mà phát ra các chứng: Đầu nhức, phát sốt không mồ hôi, sợ lạnh, tay chân, mình mẩy đau nhức; hoặc phong hàn xâm phạm trường vị, phát ra các chứng bụng đau, thổ tả gọi là “âm thử” còn gọi là thử nguyệt trúng hàn (tháng nóng trúng hàn).
Nếu trong những ngày nắng to, liên tục lao động hoặc đi đường dài, bị nhiệt tà xâm nhập, đột ngột ngã lăn mê man, tự ra mồ hôi lạnh, chân tay lạnh, gọi là “trúng thử” đó là những chứng bệnh thường gặp trong mùa hạ.
Ngoài ra thử phối hợp với thấp, xâm phạm vào đại tràng, tiểu tràng mà phát ra các chứng trạng: ỉa chảy, bụng đau, đi ngoài mót rặn, đi ngoài ra chất lầy nhầy, trắng đỏ lẫn lộn, phát sốt, miệng khát, gọi là “thương thử hạ lỵ”. Mùa hạ bị thử tà xâm phạm đến mùa thu mới phát bệnh, có các chứng sợ lạnh, hàn nhiệt vãng lai giống như Triệt ngược gọi là “phục thử”.
Chủ khí của trưởng hạ, khí hậu ẩm ướt.
Thấp là hiện tượng trong không khí độ ẩm quá cao. Mùa trưởng hạ, mưa nhiều, đất ẩm ướt, sương sớm mờ mịt... đều là hiện tượng thấp khí nhiều cho nên “thấp” là chủ khí của trưởng hạ.
Trong mùa hạ nếu bị sương ẩm xâm nhiễm lâu ngày, hoặc ở lâu nơi ẩm ướt, hoặc đang lúc mồ hôi ra mà dầm bùn, nước...đều dễ bị thấp khí bên ngoài xâm phạm vào cơ thể mà phát sinh bệnh thấp, gọi là ngoại thấp. Nếu do uống nhiều rượu hoặc nghiện rượu, chè, ham ăn sống, lạnh, hoặc đồ ngọt, nhiều chất dầu mỡ làm ảnh hưởng tới công năng vận hoá của tỳ mà sinh ra thấp tà, đó là thấp từ trong sinh ra gọi là “Nội thấp”.
Biểu hiện của thấp trên lâm sàng, ngoại thấp từ biểu vào lý, bệnh biến thường ở cơ biểu và kinh lạc, như nóng lạnh, tự ra mồ hôi, người mệt mỏi, hoặc khốp đau nhức, hoặc chân tay mình mẩy nặng nề, phù thũng...
Lý thấp sinh ra ở trong, bệnh biến thường ở nội tạng, như ngực tức, nôn mửa, hoặc bụng đầy trướng hoặc hoàng đản, ỉa chảy...
Ngoài ra, bệnh thấp kiêm hàn gọi là “hàn thấp”; bệnh thấp kiêm phong gọi là “phong thấp”; bệnh thấp kiêm nhiệt gọi là “thấp nhiệt”; bệnh thấp kiêm thử gọi là “thử thấp”... đều là bệnh biến do thấp tà kiêm với năm khí khác phát ra, phạm vi gây bệnh của chúng rất rộng và chứng trạng cũng khác nhau.
Tóm lại: Hàn thấp ở ngoài làm thương tổn cơ thể ở phần biểu, sẽ sinh ra các hiện tượng ố hàn, phát nhiệt, không mồ hôi thân thể nặng nề, khớp đau nhức, vận động khó khăn... Nếu vệ khí và dinh khí hư nhược không đuổi được hàn thấp ra ngoài dây dưa lâu ngày, hàn thấp hoặc lưu ở cơ nhục, hoặc xâm phạm kinh lạc, hoặc phạm đến các khớp, sẽ thành bệnh tê đau do hàn thấp gây ra, biểu hiện ra các chứng mình mẩy nặng nề, khớp đau; bệnh nặng thì da thịt tê dại gặp ngày mưa hoặc lạnh, bệnh càng thêm nặng. Hiện tượng biểu chứng của phong thấp, cơ bản khác với biểu chứng hàn thấp, mạch phù hoãn và ra mồ hôi, sợ gió, biểu chứng phong thấp lâu ngày không giải được cũng có thổ chuyển thành chứng tê đau, khác nhau là: Chứng tê đau hàn thấp thì hay đau nhức ở một chỗ nhất định, còn chứng tê đau phong thấp thì chỗ đau thường không cố định, nếu thấp nhiệt xâm phạm cơ biểu, ngoài chứng trạng người mệt mỏi, mình nặng, khớp đau, thì lúc mới phát bệnh chỉ hơi ố hàn, rồi rất mau biểu hiện ra các chứng thuần phát nhiệt, miệng khát, rêu lưỡi hơi vàng cáu, mạch phù sác...
Chủ khí của mùa thu, khí hậu khô ráo.
Táo ngược lại với thấp, táo là hiện tượng độ ẩm thấp trong không khí ít. Trong mùa thu bị táo khí xâm phạm, biểu hiện ra các chứng trạng: Ho, đau họng...gọi là “thu táo”, nên táo là chủ khí của mùa thu.
Thu táo chia ra: Lương táo và ôn táo. Mùa thu chớm lạnh, gió tây tiêu sái, cảm nhiễm tà khí, thường gọi là “Lương táo”, nếu lâu ngày không mưa khí trời táo nhiệt, cảm nhiễm tà khí, thường gọi là “Ôn táo”.
Biểu hiện của thu táo trên lâm sàng: Ôn táo thường có các chứng trạng: Người sốt, có mồ hôi, họng đau, ho, sườn đau, đờm màu hồng, mũi khô... Lương táo thường có các chứng trạng: Đầu nhức, ố hàn, ho, không mồ hôi, mũi nghẹt...
Lương táo hoặc ôn táo đều có chứng trạng đặc trưng là: Hôi miệng, khô ráo, da khô không nhuận, đại tiện táo bón.
Ngoài ra bệnh nội thương mà tân dịch khô ráo, hoặc dùng lầm thuốc hãn, thổ hạ làm hao tổn tân dịch, cũng có thể sinh ra hiện tượng táo như tân dịch của tỳ vị khô cạn gây ra miệng khô, lưỡi ráo, khát muốn uống, uống xong lại khát ngay, ăn uống khó tiêu, ăn vào lại nôn ra; huyết dịch khô cạn sẽ có chứng đại tiện táo bón. Các bệnh biến đó đều do tân dịch nội thương gây ra khác với thu táo.
Chuyển hoá được cả năm khí trong bốn mùa.
Hoả là do nhiệt cực sinh ra, trong bốn mùa, năm khí: Phong, thử, thấp, táo, hàn đều có thể hoá hoả.
Như bệnh phong ôn xuất hiện các chứng mắt lờ đò, tay chân co giật, người uốn cong, đó là phong tà hoá hoả; Bệnh thử nóng bứt rứt, miệng khát, tự ra mồ hôi, mắt đỏ là do thử tà hoá hoả. Thời kỳ sau của bệnh thấp nhiệt có các chứng trạng môi khô, lưỡi ráo, hôn mê nói nhảm là thấp tà hoá hoả. Táo khí hoả hoả, hun đốt phế sẽ phát sinh chứng ho, ho ra máu. Thời kỳ sau của bệnh thương hàn có các chứng lưỡi đỏ thẫm, tâm phiền bứt rứt, bụng đau, mất ngủ là hàn tà hoá hoả.
Ngoài ra do lo nghĩ nhiều phát ra “tâm hoả”, bi ai phát ra “phế hoả”... đó là “hoả trong ngũ chí” không thuộc phạm vi ngoại nhân.
Ngoài ra khi cơ thể ngũ tạng lục phủ bị bệnh biến ở trong cơ thể gây ra: Nội phong, nội hàn, nội nhiệt, nội thấp, nội táo thì biểu hiện các chứng trạng khác với lục dâm ngoại cảm.
Trong thực tiễn lâm sàng, người xưa còn thấy lục dâm cảm nhiễm ẩn nấp trong cơ thể sau một thời kỳ mới phát bệnh nên gọi là phục khí hay phục tà. Ngoại tà ẩn nấp là do vệ sinh phòng bệnh không tốt, sức chống bệnh suy yếu, hoặc là một bộ phận trong cơ thể hư nhược, ngoại tà thừa hư truyền vào như mùa đông vất vả quá độ, mồ hôi ra nhiều, hàn tà dễ vào tấu lý cơ phu; hoặc thận khí hư, hàn tà xâm phạm vào thiếu âm. Đến mùa xuân, hạ, dương khí tiết ra, phục khí tiếp xúc vối ngoại tà mà phát bệnh. Cũng có khi mùa hạ bị thử tà xâm phạm, đến mùa thu mát mẻ, phục khí bị xúc động mới phát sinh ra bệnh hoặc cũng có khi không có ngoại tà mà phục khí cũng tự phát bệnh.
Phân biệt phục tà và tân cảm:
Tân cảm: Thời gian cảm nhiễm tà khí ngắn, gây bệnh ngay (quá trình bệnh biến đều ngắn) và sức khoẻ nhanh hồi phục.
Tân cảm xúc động phục tà: Sau khi chứng trạng tân cảm xuất hiện, bệnh biến phát sinh, quá trình bệnh biến dài.
Phục tà: Là lúc đầu không có chứng trạng tân cảm, phát bệnh lập tức thấy trong người rất nóng, có xu thế hoá táo thiêu đốt phần âm, đó là đơn thuần phục tà.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin mới nhất về dịch NCOV 2019 trên Thế giới và Việt Nam
Cách pha dung dịch rửa tay khô theo chuẩn WHO
Những bệnh mùa đông xuân có thể xuất hiện cùng dịch nCoV 2019
WHO giải đáp các thắc mắc vè dịch nCoV 2019
Những thông tin dịch bệnh nCoV 2019
Virus Corona là gì? những kiến thức về virus Corona bạn nên biết
Làm thế nào để loại bỏ những nguy hại từ virus nCoV-2019?
Thai phụ nhiễm nCoV-2019 có lây sang con không?
Coronavirus có thể sống đến 9 ngày ngoài môi trường?
Chữa cảm gió, cảm lạnh thật đơn giản, hiệu quả
Cách chữa khỏi đau lưng đơn giản, hiệu quả bạn nên biết
Xoa bóp bấm huyệt chữa khỏi đau đầu, hen phế quản
Bệnh lý tim mạch tăng cao trong dịp tết
Xoa bóp bấm huyệt chữa các chứng đau nhức
Hướng dẫn chi tiết các thủ thuật xoa bóp bấm huyệt chữa bệnh
Chữa nấc cụt đơn giản hiệu quả
Viêm họng, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Bệnh loãng xương, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Bệnh gout, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Những bệnh lý nguy hiểm ở cột sống
Sức khỏe tinh thần ảnh hưởng như thế nào đến nhan sắc người phụ nữ?
Nhồi máu cơ tim, nguyên nhân, triệu chứng và điều trị
Giải pháp phòng chống ung thư gan
Rối loạn giấc ngủ, biện pháp và khắc phục
Đau thần kinh tọa, giải pháp và điều trị
Sức khỏe nam khoa và những điều nên biết
Củ quả mọc mầm ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
HIV lây từ mẹ sang con như thế nào?
Uống nhiều nước không tốt cho sức khỏe, thế nào là uống nước đúng cách?
Tác dụng chữa bệnh của củ gừng
Bệnh sốt xuất huyết và cách phòng tránh
Chứng ê buốt răng, nguyên nhân và phòng tránh
Bệnh ngáy ngủ có ảnh hưởng đến sức khỏe không?
Bệnh lang ben và cách điều trị
Xử lý khi trẻ bị co giật và những lưu ý
Chế độ ăn cho người mắc bệnh Gout
Cách điều trị mụn cơm, mụn cóc
Làm trắng răng ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe
Bệnh Ebola nguy hiểm như thế nào?
Thừa cân béo phì, nguyên nhân và phòng tránh
U xơ tuyến vú, nguyên nhân và cách điều trị
Bệnh tiểu đường làm tăng nguy cơ ung thư
Những biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường
Tiểu đường gây tổn thương hệ thần kinh, gây liệt dương
Dấu hiệu bệnh tiểu đường bạn nên biết
Bệnh tiểu đường, nguyên nhân và cách điều trị
Thuốc ức chế miễn dịch trong bệnh dị ứng và tự miễn
Viêm da cơ địaCác phản ứng quá mẫn với Vacxin
Chẩn đoán và xử lý cơn hen phế quản
Loét dạ dày, tá tràng - nguyên nhân và cách điều trị
Những điều cần biết khi dùng thuốc qua đường tiêu hóa
Trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ có thể gây tử vong
Rối loạn tiêu hóa ở trẻ sơ sinh
Bệnh loét dạ dày tá tràng mang tính di truyền
Nhận biết ung thư tiền liệt tuyến
Phát hiện sớm đột quỵ và những việc cần làm
Dự phòng điều trị cảm sốt sau mưa
Ngộ độc thực phẩm trong mùa hè
Phòng bệnh người cao tuổi trời nắng nóng
Phòng ngừa đuối nước trong mùa hè
Tác dụng phụ của thuốc tránh thai
Tác hại do lạm dụng thuốc tránh thai khẩn cấp
Phát tướng, tăng cân nhanh, nguyên nhân và dự phòng
Bệnh ù tai, nguyên nhân và cách điều trị
Viêm tai giữa, nguyên nhân và cách điều trị
Dự phòng và điều trị biến chứng do bệnh quai bị
Viêm da dị ứng, nguyên nhân và cách điều trị
9 Cách giảm huyết áp không dùng thuốc
BỆNH SỞI CHẠY HẬU, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ
BẠCH CẦU CẤP- NGUYÊN NHÂN- TRIỆU CHỨNG- ĐIỀU TRỊ
BỆNH HIV VÀ QUÁ TRÌNH MANG THAI
CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
CHỬA TRỨNG, CHẤN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
CƠN NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRẺ EM
ĐIỀU TRỊ BỆNH XUẤT HUYẾT GIẢM TIỂU CẦU CHƯA RÕ NGUYÊN NHÂN
ĐIỀU TRỊ VÀNG DA TĂNG BILIRUBIN TỰ DO Ở TRẺ SƠ SINH
ĐIỀU TRỊ MẤT NƯỚC Ở TRẺ SƠ SINH
KIỂM TRA XÉT NGHIỆM MÁU VÀ CÁC CHỈ SỐ
NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở TRẺ SƠ SINH
NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU PHOSPHO HỮU CƠ
THIỂU NĂNG TUYẾN THƯỢNG THẬN CẤP
TRIỆU CHỨNG HỌC LÂM SÀNG THẦN KINH
VÔ SINH, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC XÉT NGHIỆM
SỐT KHI MANG THAI, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ
SUY THAI, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
TẮC MẠCH ỐI, CHẨN ĐOÁN, PHÒNG BỆNH
TỔN THƯƠNG LÀNH TÍNH CỔ TỬ CUNG
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH