PHẾ (thuộc hành kim, thuộc âm, quan hệ biểu lý với đại trường)
Phế là cái lọng che ngũ tạng phủ ở thượng tiêu (khoang ngực), có 6 lá hai nhĩ, là nơi các mạch tụ hội, nặng 3 cân 6 lạng (y học hiện đại: Phổi phải 3 thùy (trên, giữa, dưới), phổi trái 2 thùy (trên dưới), cuống phổi có phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch phế quản, tĩnh mạch phế quản, các mạch bạch huyết, các thần kinh giao cảm và phó giao cảm).
Phế có các công năng chủ yếu sau: phế chủ khí (phụ trách hô hấp), phế trợ tâm chủ trị tiết, phế chủ tuyên giáng, phế chủ bì mao? điều hoà đường tuần hoàn của nước.
Cũng là “phế là gốc cua khí”, hoặc “các khí đều thuộc phế?, có nghĩa là phế phụ trách khí của toàn thân.
Phế chủ khí thể hiện ở chủ khí hô hấp và chủ khí ở trong cơ thể.
Khí là một trong hai vật chất quan trọng để nuôi dưỡng cơ thể, duy trì sự sống. Khí này có hai nguồn khí trời và khí đất (khí của thức ăn uống). Hai khí này hợp thành tông khí ở phế.
Phế chủ khí hô hấp là thông qua hô hấp, hít vào đưa khí trời (thanh khí) vào cơ thể, và thở ra đưa các trọc khí (khí cặn bã) ra ngoài, làm cho khí trời và khí trong cơ thể luôn luôn thay đổi, thông suốt. Sách cổ viết: “Thiên khí thông với phế”.
Phế chủ khí ở trong cơ thể là phế thông qua tâm mạch đưa tông khí đi toàn thân để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Mặt khác tông khí lại góp phần thúc đẩy, duy trì quá trình hô hấp, đảm bảo đủ hơi để nói. Vì vậy sách cổ viết: “tất cả các khí đều thuộc phí”.
Sách viết: “Phế giả, tướng phó chi quan, trị tiết xuất yên”, hàm ý: Phế như tể tướng, điều tiết phần khí của toàn thân để hỗ trợ cho chức năng của tâm đối với 12 tạng phủ. Tâm chủ huyết, đưa huyết đi toàn thân để nuôi dưỡng cơ thể. Song còn cần phải có khí của phế vào mạch đồng hành với huyết, giúp cho huyết hành đến từng bộ phận thông suốt. Vì vậy, sách viết: Khí hành thì huyết hành, khí là soái của huyết. Song khí muốn hành được phải do huyết chở đi “huyết là mẹ của khí”. Tâm và phế, khí và huyết bồi bổ, hỗ trợ nhau.
Cơ thể luôn hoạt động để sống, mỗi tạng phủ cơ quan đều phải thực hiện hiệp đồng chặt chẽ với nhau để cơ thể thành một khối thống nhất. Cơ quan giúp tâm làm việc này là phế thông qua chức năng chủ khí. (chủ khí hô hấp và chủ khí toàn thân) của mình.
Phế hoạt động tốt sẽ đảm bảo hoạt động chức năng của từng tạng phủ tốt và các tạng phủ sẽ hoạt động nhịp nhàng để đảm bảo chức năng sống của cơ thể tốt.
Sự hoạt dộng của toàn thân do tâm (cơ quan quân chủ) phụ trách, nhưng phải sự hỗ trợ của phế (cơ quan tướng phó) mới có thể làm mọi hoạt động nhịp nhàng với nhau (chủ tị tiết).
Tuyên là tuyên phát. Giáng là túc giáng.
Phế chủ tuyên phát là nói đến nhờ sự thúc đẩy của phế khí nên các chất cần cho cơ thể (khí huyết, tân dịch) được phân tán đến toàn than, bên trong đến các tạng phủ kinh lạc, bên ngoài đến cơ nhục da lông, không chỗ nào là không đến.
Khi phế khí tuyên phát tốt thì trong ngực khoan khoái, thở đều đặn, ngoài ra còn làm cho tất cả mọi bộ phận của cơ thể được nuôi dưỡng và hoạt động tốt. Vì thế sách viết: “thượng tiêu khai phát, tuyên phát ngũ cốc vị”, mặt khác phế chủ túc giáng, vì phế ở cao nhất, phế khí phải đi xuống là thuận. Phế chủ tuyên giáng tốt thì khí cơ của phế hoà, chức năng của phế tốt. Tuyên phát và túc giáng là hai mặt thống nhất của khí cơ ở phế. Tuyên phát tốt thì túc giáng mới tốt, ngược lại túc giáng tốt thì tuyên phát mới tốt, mới đảm bảo cho khí thông, hô hấp điều hoà, sự giao hoà giữa khí thiên nhiên và khí trong cơ thể được tiến hành có hiệu quả, mới làm cho khí huyết tân dịch phân bố được đi toàn thân, phần tân dịch không dùng đến mới xuống bàng quang thành nước tiểu để ra ngoài.
Phế chủ da lông qua tác dụng tuyên phát của nó. Phế đưa khí huyết tân dịch ra da lông để nuôi dưỡng bộ phận này làm cho da nhuận, lông mượt, qua đó nâng cao chính khí của da lông, và cơ thể được bảo vệ tốt.
Phế làm thông và điều tiết đường nước nhờ tac dụng túc giáng của phế khí. Tân dịch sau khi làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cơ thể trở thành trọc, chất trọc này phải đi xuống bàng quang để một bộ phận lớn của nó được khí hoá thành khi lên phế, còn một phần nhỏ chuyển thành nước tiểu ra ngoài. Tân dịch muốn từ thượng tiêu, qua trung tiêu xuống hạ tiêu được phải nhờ tự túc giáng của phế khí. Nhờ sự túc giáng của phế khí, nhờ sự túc giáng của phế khí, tuần hoàn của tân dịch (nước) được bảo đảm, vì vậy phế được coi là bộ phần làm thông điều tiết đường nước.
Mũi là đường thở của phế, nên “mũi là khiếu của phế”, mũi có công năng thông khí và ngửi, dựa chủ yếu vào tác dụng của phế khí. Phế khí hòa thì thở tốt và ngửi được thơm thối. Vì mũi là cửa ngõ của phế, nên ngoại tà có thể thông qua mũi vào phế.
Một trong những ngoại tà mà phế không ưa là hàn, vì phế khí hư thì hàn, nay lại thêm hàn nữa thì bệnh của phế tăng lên. Vì vậy nói “phế ghét hàn”.
Về khí: thở yếu, đoản hơi, tiếng nói nhỏ, đứt quãng, người mệt (hư).
- Về túc giáng: Khí nghịch gây ho, khí trệ, khí bế gây ngột ngạt khó thở, ngực đầy không khoan khoái (thực).
- Về tuyên phát: ngực đầy mũi tắc, đờm dãi ứ (thực).
- Về bì mao: da khô lông cứng (nuôi dưỡng kém), tự hãn dễ bị ngoại tà xâm nhập (vệ khí kém), bị ngoại tà không ra mồi hôi (biểu thực).
Về thông điều thuỷ đạo: phù mắt, phù mặt trước, đái ít (thực).
Về mũi: chảy mũi, ngạt ngũi (hàn), mũi khô (táo) cánh mũi phập phồng, mũi khô, chảy máu cam (nhiệt), về tiếng nói, tiếng nói nhỏ, đứt quãng (hư), tiếng nói khàn, nặng tiếng, mất tiếng (ngoại tà phạm phế).
Thường do bệnh ho khạc mạn tính (cửu khái thấu) nói nhiều làm tổn thương khí, lâu dần gây phế khí hư, do nguồn sinh hóa của khí kém không đủ khí đưa lên phế gây nên.
Chứng trị
Chứng và hậu: đoản hơi làm hơi nặng, thở gấp, lười nói hay nói nhỏ, hay đứt quãng, tiếng ho yếu, người mệt, tự hãn, lưỡi nhợt, mạch hư yếu.
Phương thuốc: Bảo nguyên thang:
Hoàng kì 5 đồng cân, nhân sâm 5 đồng cân, cam thảo 1,5 đồng cân (để bổ nguyên khí, phế khí, trung khí), nhục quế 2 đồng cân (để ôn dương).
Phương này dùng cho phế khí hư tự hãn, tăng cường bổ vệ khí
Phương thuốc: Tứ quân tử thang
Nhân sâm 3 đồng cân (để bổ nguyên khí), bạch truật 3 đồng cân (để kiện tì táo thấp), bạch linh 3 đồng cân, cam thảo 2 đồng cân (để kiện tì táo thấp).
Phương thuốc này bổ tì (nguồn sinh hoá của khí) để bổ phế khí.
Thường thấy ở người bệnh lâu, hoặc có nhiệt tà làm tổn thương âm, hoặc mất nhiều mồ hôi, mất nhiều tân dịch, không dưỡng được phế âm. Khí âm hư, âm không chế được dương sẽ có phế âm hư hoả vượng.
Chứng trị
Chứng và hậu: Ho kéo dài, ho khan hoặc ho có đờm ít và dính, họng khô, ngứa, tiếng nói khàn người gây lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế vô lực.
Phép điều trị: Tư âm dưỡng phế.
Phương thuốc: Bách hợp cố kim thang .
Sinh địa 2 đồng cân, thục địa 3 đồng cân (để tư âm bổ thận lương huyết), mạch môn 1,5 đồng cân (để hóa đờm chỉ ho), đương quy 1 đồng cân (để dưỡng huyết nhuận táo), bạch thược 1 đồng cân (để dưỡng huyết ích âm), huyền sâm 0.8 đồng cân (để tư âm, thanh hư hỏa lương huyết), cát cánh 0.8 đồng cân, sinh cam thảo 1 đồng cân (để lọc hầu họng, điều hòa các vị thuốc).
Nếu ho có dính máu, sốt chiều, gò má đỏ.
Phép điều trị: Tư âm, giáng hoả.
Phương thuốc: Dưỡng âm thanh phế thang
Sinh địa 2 đồng cân (để tư âm lương huyết), huyền sâm 1,5 đồng cân (tư âm giáng hoả), mạch môn 1,2 đồng cân (dứỡng phế âm), bạch thược 0,8 đồng cân (để dưỡng huyết ích âm), bối mẫu 0,8 đồng cân, bán hạ 0,5 đồng cân (để nhuận khí phế hoá đờm), đơn bì 0,8 đồng cân (để lương huyết).
Thường do phòng hàn thừ lúc phế khí hư xâm phạm vào phế làm phế co lại dẫn đến phế khí bị uất lại không tuyên phát túc giáng như bình thường.
Chứng trị:
Chứng và hậu: khó thở hoặc ho khạc có đờm loãng màu trắng có bọt, miệng không khát, hoặc chảy mũi, ngạt mũi, hoặc ố hàn, đau đầu, mình mẩy nặng nề uể oải, rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn.
Phép điều trị: Tuyên phế tán hàn, chỉ ho.
Phương thuốc: Hạnh tô tán gia giảm.
Tô diệp 2 đồng cân (để giải biểu tán tà), tiền hồ 2 đồng cân, hạnh nhân 2 đồng cân, cát cánh 2 đồng cân (để lợi khí chỉ ho), bán hạ 2 đồng cân, phục linh 2 đồng cân (để thảm thấp hóa đờm), trần bì 2 đồng cân, chỉ xác 2 đồng cân (để lí khí làm khoan khoái lồng ngực), cam thảo 2 đồng cân, sinh khương 2 đồng cân, đại táo 2 đồng cân (để tán hàn điều hòa dinh vệ).
Phương thuốc (trích từ thuốc Nam và châm cứu).
Tô diệp 3 đồng cân, kinh giới 2 đồng cân, lá hẹ 3 đổng cân, lá xương sông 3 đồng cân, gừng sống 2 đổng cân.
Phương này có công dụng tuyên phế tán hàn chỉ ho.
Thường do phong nhiệt trực tiếp tác động vào phế, hoặc do phong tà lưu uất ở phế hoá nhiệt làm cho phế mất tuyên phát, túc giáng.
Chứng và hậu của ngoại cảm phong nhiệt: ho khạc có đờm dính vàng, khó nhổ ra, họng đau rát, khát muốn uống, đầu lưỡi đỏ, mạch phù sác.
Phép điều trị: Tuyên phế thanh nhiệt
Phương thuốc: Tang cúc ẩm.
Tang diệp 2,5 đồng cân, cúc hoa 2 đồng cân, bạc hà 0,8 đồng cân, liên kiều 1,5 đồng cân (để sơ phong thanh nhiệt), hạnh nhân 2 đồng cân, cát cánh 2 đồng cân (để lợi khí chỉ ho), lô căn 2 đồng cân (để thanh nhiệt sinh tân chỉ khát), cam thảo sống 0,8 đồng cân (để điều hòa các vị thuốc, kết hợp với cát cánh để lợi hầu họng, chỉ ho).
Phương thuốc:
Tang diệp 3 đồng cân, cúc hoa 2 đồng cân, bạc hà 2 đồng cân, liên kiều thảo (rau má) 3 đồng cân, lá hẹ 2 đồng cân.
Sốt, khó thở, cánh mũi phập phồng, bồn chồn (lí nhiệt), có hoặc không có mồ hôi, mạch phù sác (biểu tà).
Phép điều tri: Tuyên tiết uất nhiệt, thanh phế định suyễn.
Phương thuốc: Ma hạnh thạch cam thang.
Ma hoàng, 1,5 dồng cân (để tuyên phế tiết nhiệt tà), thạch cao 6 đồng cân (để thanh phế định suyễn), hạnh nhân 3 đồng cân (để giáng phế, bình suyễn), cam thảo chích 2 đồng cân (để ích khí hoà trung, hợp với thạch cao để sinh tân chỉ khát).
Thường do táo nhiệt trực tiếp vào phế, táo làm tân dịch khô, nhiệt làm tân dịch hao, dẫn đến phế mất tuyên phát túc giáng.
Chữa trị:
Chứng và hậu: Ho khan, hoặc ho có đờm với tính chất ít, vón thành cục nhỏ khó khạc, mũi khô, họng ráo, rêu mỏng trắng ít tân dịch, đầu lưỡi đỏ, mạch phù, tế, sác. Có thể có sốt, đau đầu, đau ngực.
Phép chữa trị: Thanh phế nhuận táo
Phương thuốc:
Tang bạch bì 3 đồng cân, trúc diệp 2 đồng cân (để tuyên phế tán tà), mạch môn 3 đồng cân (để nhuận phế chỉ ho), lá hẹ 2 đồng cân (để tuyên phế lợi khí).
Có thể gia thâm hạnh nhân 1.5 đồng cân (để tuyên phế lợi khí), sa sâm 2 đồng cân, thiên môn 2 đồng cân (để nhuận phế chỉ ho).
Thường do đờm trọc sau khi được sinh ra ứ lại ở phế làm mất tuyên giáng.
Chữa trị
Chứng và hậu: Ho, nhiều đờm với tính chất màu trắng dính, dễ khạc, hoặc suyễn tức (cùng là khí suyễn, khó thở), ngực đầy (mãn), buồn nôn, rêu lưỡi trắng cáu, mạch thường hoạt. Phép điều trị: Tẳo thấp hoá đờm
Phương thuốc: Nhị trần thang
Bán hạ 4 đồng cân (để hoá đờm chỉ ho), phục linh 3 đồng cân (để thảm thấp), trần bì 4 đồng cân (để lí khi táo thấp), cam thảo 3 đồng cân (để điều hoà các vị thuốc). Có thể gia quế chi 1,5 đồng cân (để ôn dương hoá khí), bạch truật 2 đồng cân (để kiện tì táo thấp). Nếu đờm khó khạc thêm bạch giới tử 2 đồng cân.)
(Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp)
Xem tiếp >>
CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG
CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ
CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG
CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG
CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ
CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN
CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT
CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN
CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM
CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ
www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH