PHẾ VÀ CÁC CHỨNG BỆNH Ở PHẾ

PHẾ (thuộc hành kim, thuộc âm, quan hệ biểu lý với đại trường)

1.Giải phẫu

Phế là cái lọng che ngũ tạng phủ ở thượng tiêu (khoang ngực), có 6 lá hai nhĩ, là nơi các mạch tụ hội, nặng 3 cân 6 lạng (y học hiện đại: Phổi phải 3 thùy (trên, giữa, dưới), phổi trái 2 thùy (trên dưới), cuống phổi có phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch phế quản, tĩnh mạch phế quản, các mạch bạch huyết, các thần kinh giao cảm và phó giao cảm).

2. Công năng sinh lí

Phế có các công năng chủ yếu sau: phế chủ khí (phụ trách hô hấp), phế trợ tâm chủ trị tiết, phế chủ tuyên giáng, phế chủ bì mao? điều hoà đường tuần hoàn của nước.

a. Phế chủ khí (quản lí hô hấp)

Cũng là “phế là gốc cua khí”, hoặc “các khí đều thuộc phế?, có nghĩa là phế phụ trách khí của toàn thân.

Phế chủ khí thể hiện ở chủ khí hô hấp và chủ khí ở trong cơ thể.

Khí là một trong hai vật chất quan trọng để nuôi dưỡng cơ thể, duy trì sự sống. Khí này có hai nguồn khí trời và khí đất (khí của thức ăn uống). Hai khí này hợp thành tông khí ở phế.

Phế chủ khí hô hấp là thông qua hô hấp, hít vào đưa khí trời (thanh khí) vào cơ thể, và thở ra đưa các trọc khí (khí cặn bã) ra ngoài, làm cho khí trời và khí trong cơ thể luôn luôn thay đổi, thông suốt. Sách cổ viết: “Thiên khí thông với phế”.

Phế chủ khí ở trong cơ thể là phế thông qua tâm mạch đưa tông khí đi toàn thân để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Mặt khác tông khí lại góp phần thúc đẩy, duy trì quá trình hô hấp, đảm bảo đủ hơi để nói. Vì vậy sách cổ viết: “tất cả các khí đều thuộc phí”.

b. Phế trợ tâm, chủ trị tiết

Sách viết: “Phế giả, tướng phó chi quan, trị tiết xuất yên”, hàm ý: Phế như tể tướng, điều tiết phần khí của toàn thân để hỗ trợ cho chức năng của tâm đối với 12 tạng phủ. Tâm chủ huyết, đưa huyết đi toàn thân để nuôi dưỡng cơ thể. Song còn cần phải có khí của phế vào mạch đồng hành với huyết, giúp cho huyết hành đến từng bộ phận thông suốt. Vì vậy, sách viết: Khí hành thì huyết hành, khí là soái của huyết. Song khí muốn hành được phải do huyết chở đi “huyết là mẹ của khí”. Tâm và phế, khí và huyết bồi bổ, hỗ trợ nhau.

Cơ thể luôn hoạt động để sống, mỗi tạng phủ cơ quan đều phải thực hiện hiệp đồng chặt chẽ với nhau để cơ thể thành một khối thống nhất. Cơ quan giúp tâm làm việc này là phế thông qua chức năng chủ khí. (chủ khí hô hấp và chủ khí toàn thân) của mình.

Phế hoạt động tốt sẽ đảm bảo hoạt động chức năng của từng tạng phủ tốt và các tạng phủ sẽ hoạt động nhịp nhàng để đảm bảo chức năng sống của cơ thể tốt.

Sự hoạt dộng của toàn thân do tâm (cơ quan quân chủ) phụ trách, nhưng phải sự hỗ trợ của phế (cơ quan tướng phó) mới có thể làm mọi hoạt động nhịp nhàng với nhau (chủ tị tiết).

C. Phế chủ tuyên giáng,

Tuyên là tuyên phát. Giáng là túc giáng.

Phế chủ tuyên phát là nói đến nhờ sự thúc đẩy của phế khí nên các chất cần cho cơ thể (khí huyết, tân dịch) được phân tán đến toàn than, bên trong đến các tạng phủ kinh lạc, bên ngoài đến cơ nhục da lông, không chỗ nào là không đến.

Khi phế khí tuyên phát tốt thì trong ngực khoan khoái, thở đều đặn, ngoài ra còn làm cho tất cả mọi bộ phận của cơ thể được nuôi dưỡng và hoạt động tốt. Vì thế sách viết: “thượng tiêu khai phát, tuyên phát ngũ cốc vị”, mặt khác phế chủ túc giáng, vì phế ở cao nhất, phế khí phải đi xuống là thuận. Phế chủ tuyên giáng tốt thì khí cơ của phế hoà, chức năng của phế tốt. Tuyên phát và túc giáng là hai mặt thống nhất của khí cơ ở phế. Tuyên phát tốt thì túc giáng mới tốt, ngược lại túc giáng tốt thì tuyên phát mới tốt, mới đảm bảo cho khí thông, hô hấp điều hoà, sự giao hoà giữa khí thiên nhiên và khí trong cơ thể được tiến hành có hiệu quả, mới làm cho khí huyết tân dịch phân bố được đi toàn thân, phần tân dịch không dùng đến mới xuống bàng quang thành nước tiểu để ra ngoài.

d. Phế chủ da lông, làm thông và điều tiết đường nước (phế chủ bì mao, thông điều thủy đạo)

Phế chủ da lông qua tác dụng tuyên phát của nó. Phế đưa khí huyết tân dịch ra da lông để nuôi dưỡng bộ phận này làm cho da nhuận, lông mượt, qua đó nâng cao chính khí của da lông, và cơ thể được bảo vệ tốt.

Phế làm thông và điều tiết đường nước nhờ tac dụng túc giáng của phế khí. Tân dịch sau khi làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cơ thể trở thành trọc, chất trọc này phải đi xuống bàng quang để một bộ phận lớn của nó được khí hoá thành khi lên phế, còn một phần nhỏ chuyển thành nước tiểu ra ngoài. Tân dịch muốn từ thượng tiêu, qua trung tiêu xuống hạ tiêu được phải nhờ tự túc giáng của phế khí. Nhờ sự túc giáng của phế khí, nhờ sự túc giáng của phế khí, tuần hoàn của tân dịch (nước) được bảo đảm, vì vậy phế được coi là bộ phần làm thông điều tiết đường nước.

e. Phế khai khiếu ở mũi

Mũi là đường thở của phế, nên “mũi là khiếu của phế”, mũi có công năng thông khí và ngửi, dựa chủ yếu vào tác dụng của phế khí. Phế khí hòa thì thở tốt và ngửi được thơm thối. Vì mũi là cửa ngõ của phế, nên ngoại tà có thể thông qua mũi vào phế.

Một trong những ngoại tà mà phế không ưa là hàn, vì phế khí hư thì hàn, nay lại thêm hàn nữa thì bệnh của phế tăng lên. Vì vậy nói “phế ghét hàn”.

3. Bệnh lí

Các chứng và hậu của phế

Về khí: thở yếu, đoản hơi, tiếng nói nhỏ, đứt quãng, người mệt (hư).

- Về túc giáng: Khí nghịch gây ho, khí trệ, khí bế gây ngột ngạt khó thở, ngực đầy không khoan khoái (thực).

- Về tuyên phát: ngực đầy mũi tắc, đờm dãi ứ (thực).

- Về bì mao: da khô lông cứng (nuôi dưỡng kém), tự hãn dễ bị ngoại tà xâm nhập (vệ khí kém), bị ngoại tà không ra mồi hôi (biểu thực).

Về thông điều thuỷ đạo: phù mắt, phù mặt trước, đái ít (thực).

Về mũi: chảy mũi, ngạt ngũi (hàn), mũi khô (táo) cánh mũi phập phồng, mũi khô, chảy máu cam (nhiệt), về tiếng nói, tiếng nói nhỏ, đứt quãng (hư), tiếng nói khàn, nặng tiếng, mất tiếng (ngoại tà phạm phế).

Các chứng hậu của phế

a. Phế khí hư

Thường do bệnh ho khạc mạn tính (cửu khái thấu) nói nhiều làm tổn thương khí, lâu dần gây phế khí hư, do nguồn sinh hóa của khí kém không đủ khí đưa lên phế gây nên.

Chứng trị

Chứng và hậu: đoản hơi làm hơi nặng, thở gấp, lười nói hay nói nhỏ, hay đứt quãng, tiếng ho yếu, người mệt, tự hãn, lưỡi nhợt, mạch hư yếu.

Phương thuốc: Bảo nguyên thang:

Hoàng kì 5 đồng cân, nhân sâm 5 đồng cân, cam thảo 1,5 đồng cân (để bổ nguyên khí, phế khí, trung khí), nhục quế 2 đồng cân (để ôn dương).

Phương này dùng cho phế khí hư tự hãn, tăng cường bổ vệ khí

Phương thuốc: Tứ quân tử thang

Nhân sâm 3 đồng cân (để bổ nguyên khí), bạch truật 3 đồng cân (để kiện tì táo thấp), bạch linh 3 đồng cân, cam thảo 2 đồng cân (để kiện tì táo thấp).

Phương thuốc này bổ tì (nguồn sinh hoá của khí) để bổ phế khí.

b. Phế âm hư

Thường thấy ở người bệnh lâu, hoặc có nhiệt tà làm tổn thương âm, hoặc mất nhiều mồ hôi, mất nhiều tân dịch, không dưỡng được phế âm. Khí âm hư, âm không chế được dương sẽ có phế âm hư hoả vượng.

Chứng trị

Chứng và hậu: Ho kéo dài, ho khan hoặc ho có đờm ít và dính, họng khô, ngứa, tiếng nói khàn người gây lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế vô lực.

Phép điều trị: Tư âm dưỡng phế.

Phương thuốc: Bách hợp cố kim thang .

Sinh địa 2 đồng cân, thục địa 3 đồng cân (để tư âm bổ thận lương huyết), mạch môn 1,5 đồng cân (để hóa đờm chỉ ho), đương quy 1 đồng cân (để dưỡng huyết nhuận táo), bạch thược 1 đồng cân (để dưỡng huyết ích âm), huyền sâm 0.8 đồng cân (để tư âm, thanh hư hỏa lương huyết), cát cánh 0.8 đồng cân, sinh cam thảo 1 đồng cân (để lọc hầu họng, điều hòa các vị thuốc).

Nếu ho có dính máu, sốt chiều, gò má đỏ.

Phép điều trị: Tư âm, giáng hoả.

Phương thuốc: Dưỡng âm thanh phế thang

Sinh địa 2 đồng cân (để tư âm lương huyết), huyền sâm 1,5 đồng cân (tư âm giáng hoả), mạch môn 1,2 đồng cân (dứỡng phế âm), bạch thược 0,8 đồng cân (để dưỡng huyết ích âm), bối mẫu 0,8 đồng cân, bán hạ 0,5 đồng cân (để nhuận khí phế hoá đờm), đơn bì 0,8 đồng cân (để lương huyết).

c. Phong hàn làm phế co lại (Phong hàn thúc phế)

Thường do phòng hàn thừ lúc phế khí hư xâm phạm vào phế làm phế co lại dẫn đến phế khí bị uất lại không tuyên phát túc giáng như bình thường.

Chứng trị:

Chứng và hậu: khó thở hoặc ho khạc có đờm loãng màu trắng có bọt, miệng không khát, hoặc chảy mũi, ngạt mũi, hoặc ố hàn, đau đầu, mình mẩy nặng nề uể oải, rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn.

Phép điều trị: Tuyên phế tán hàn, chỉ ho.

Phương thuốc: Hạnh tô tán gia giảm.

Tô diệp 2 đồng cân (để giải biểu tán tà), tiền hồ 2 đồng cân, hạnh nhân 2 đồng cân, cát cánh 2 đồng cân (để lợi khí chỉ ho), bán hạ 2 đồng cân, phục linh 2 đồng cân (để thảm thấp hóa đờm), trần bì 2 đồng cân, chỉ xác 2 đồng cân (để lí khí làm khoan khoái lồng ngực), cam thảo 2 đồng cân, sinh khương 2 đồng cân, đại táo 2 đồng cân (để tán hàn điều hòa dinh vệ).

Phương thuốc (trích từ thuốc Nam và châm cứu).

Tô diệp 3 đồng cân, kinh giới 2 đồng cân, lá hẹ 3 đổng cân, lá xương sông 3 đồng cân, gừng sống 2 đổng cân.

Phương này có công dụng tuyên phế tán hàn chỉ ho.

e. Phong nhiệt xâm phạm phế

Thường do phong nhiệt trực tiếp tác động vào phế, hoặc do phong tà lưu uất ở phế hoá nhiệt làm cho phế mất tuyên phát, túc giáng.

Chứng và hậu của ngoại cảm phong nhiệt: ho khạc có đờm dính vàng, khó nhổ ra, họng đau rát, khát muốn uống, đầu lưỡi đỏ, mạch phù sác.

Phép điều trị: Tuyên phế thanh nhiệt

Phương thuốc: Tang cúc ẩm.

Tang diệp 2,5 đồng cân, cúc hoa 2 đồng cân, bạc hà 0,8 đồng cân, liên kiều 1,5 đồng cân (để sơ phong thanh nhiệt), hạnh nhân 2 đồng cân, cát cánh 2 đồng cân (để lợi khí chỉ ho), lô căn 2 đồng cân (để thanh nhiệt sinh tân chỉ khát), cam thảo sống 0,8 đồng cân (để điều hòa các vị thuốc, kết hợp với cát cánh để lợi hầu họng, chỉ ho).

Phương thuốc:

Tang diệp 3 đồng cân, cúc hoa 2 đồng cân, bạc hà 2 đồng cân, liên kiều thảo (rau má) 3 đồng cân, lá hẹ 2 đồng cân.

h. Chứng và hậu của phong là uất ở phế hoá nhiệt

Sốt, khó thở, cánh mũi phập phồng, bồn chồn (lí nhiệt), có hoặc không có mồ hôi, mạch phù sác (biểu tà).

Phép điều tri: Tuyên tiết uất nhiệt, thanh phế định suyễn.

Phương thuốc: Ma hạnh thạch cam thang.

Ma hoàng, 1,5 dồng cân (để tuyên phế tiết nhiệt tà), thạch cao 6 đồng cân (để thanh phế định suyễn), hạnh nhân 3 đồng cân (để giáng phế, bình suyễn), cam thảo chích 2 đồng cân (để ích khí hoà trung, hợp với thạch cao để sinh tân chỉ khát).

g. Táo nhiệt làm tổn thương phế

Thường do táo nhiệt trực tiếp vào phế, táo làm tân dịch khô, nhiệt làm tân dịch hao, dẫn đến phế mất tuyên phát túc giáng.

Chữa trị:

Chứng và hậu: Ho khan, hoặc ho có đờm với tính chất ít, vón thành cục nhỏ khó khạc, mũi khô, họng ráo, rêu mỏng trắng ít tân dịch, đầu lưỡi đỏ, mạch phù, tế, sác. Có thể có sốt, đau đầu, đau ngực.

Phép chữa trị: Thanh phế nhuận táo

Phương thuốc:

Tang bạch bì 3 đồng cân, trúc diệp 2 đồng cân (để tuyên phế tán tà), mạch môn 3 đồng cân (để nhuận phế chỉ ho), lá hẹ 2 đồng cân (để tuyên phế lợi khí).

Có thể gia thâm hạnh nhân 1.5 đồng cân (để tuyên phế lợi khí), sa sâm 2 đồng cân, thiên môn 2 đồng cân (để nhuận phế chỉ ho).

k. Đờm trọc ứ ở phế .

Thường do đờm trọc sau khi được sinh ra ứ lại ở phế làm mất tuyên giáng.

Chữa trị

Chứng và hậu: Ho, nhiều đờm với tính chất màu trắng dính, dễ khạc, hoặc suyễn tức (cùng là khí suyễn, khó thở), ngực đầy (mãn), buồn nôn, rêu lưỡi trắng cáu, mạch thường hoạt. Phép điều trị: Tẳo thấp hoá đờm

Phương thuốc: Nhị trần thang

Bán hạ 4 đồng cân (để hoá đờm chỉ ho), phục linh 3 đồng cân (để thảm thấp), trần bì 4 đồng cân (để lí khi táo thấp), cam thảo 3 đồng cân (để điều hoà các vị thuốc). Có thể gia quế chi 1,5 đồng cân (để ôn dương hoá khí), bạch truật 2 đồng cân (để kiện tì táo thấp). Nếu đờm khó khạc thêm bạch giới tử 2 đồng cân.)

(Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp)

Xem tiếp >>

 

CHỨNG ÂM DỊCH KHUY TÔN

CHỨNG ÂM DƯƠNG ĐỀU HƯ

CHỨNG BÀNG QUANG HƯ HÀN

CHỨNG BÀNG QUANG THẤP NHIỆT

CHỨNG BÀO CUNG HƯ HÀN

CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG

CHỨNG CAN ÂM HƯ

CHỨNG CAN ĐƠM NHIỆT

CHỨNG CAN DƯƠNG HƯ

CHỨNG CAN DƯƠNG THƯƠNG CANG

CHỨNG CAN HỎA THƯỢNG VIÊM 

CHỨNG CAN HUYẾT HƯ

CHỨNG CAN HUYẾT Ứ Ở TRẺ

CHỨNG CAN KHÍ UẤT KẾT

CHỨNG CAN KINH THẬP NHIỆT

CHỨNG CAN PHONG NỘI ĐỘNG

CHỨNG CAN VỊ BẤT HÒA

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG HƯ HÀN

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG KẾT NHIỆT

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG TÂN KHUY

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG THẤP NHIỆT

CHỨNG ĐÀM HÓA QuẤY RỐI TÂM

CHỨNG ĐÀM KHÍ CẤU KẾT

CHỨNG ĐÀM NHIỆT ÚNG TẮC Ở PHẾ

CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ

CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG

CHỨNG ĐÀM Ứ CẤU KẾT

CHỨNG ĐỜM KHÍ HƯ

CHỨNG ĐỜM NHIỆT

CHỨNG ĐỜM UẤT ĐÀM QuẤY NHIỄU

CHỨNG DƯƠNG HƯ

CHỨNG DƯƠNG HƯ

CHỨNG HÀN ĐÀM 

CHỨNG HÀN ĐÀM NGĂN TRỞ PHẾ

CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG

CHỨNG HÀN THẤP

CHỨNG HÀN THẤP

CHỨNG HÀ TRỆ CAN MẠCH

CHỨNG HUYẾT HÀN

CHỨNG HUYẾT HƯ

CHỨNG HUYẾT NHIỆT

CHỨNG HUYẾT THOÁT

CHỨNG HUYẾT THOÁT

CHỨNG HUYẾT Ứ

CHỨNG KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

CHỨNG KHÍ BẾ

CHỨNG KHÍ BẾ

CHỨNG KHÍ HÃM

CHỨNG KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ

CHỨNG KHÍ NGHỊC

CHỨNG KHÍ THOÁT

CHỨNG MẠCH TẾ NGHẼN

CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM

CHỨNG NHIỆT ĐÀM

CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ ÂM HƯ

CHỨNG PHẾ DƯƠNG HƯ

CHỨNG PHẾ KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

CHỨNG PHẾ KHI HƯ

CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ KHÍ SUY TUYẾT

CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ THẬN ÂM HƯ

CHỨNG PHẾ TÝ THẬN DƯƠNG HƯ

CHỨNG PHONG ĐÀM

CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM

CHỨNG PHÒNG HÀN PHẠM PHẾ

CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ

CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM

CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN

CHỨNG TÂM ÂM HƯ

CHỨNG TÂM CAN HUYẾT HƯ

CHỨNG TÂM ĐỜM BẤT NINH

CHỨNG TÂM DƯƠNG HƯ

CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT

CHỨNG TÂM HỎA CAN THỊNH

CHỨNG TÂM HUYẾT HƯ

CHỨNG TÂM KHÍ HƯ

CHỨNG TÂM KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ

CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM

CHỨNG TÂM PHẾ KHÍ HƯ

CHỨNG TÂN DỊCH KHUY TÔN

CHƯNG TÁO BÓN

CHỨNG TÁO ĐÀM

CHỨNG PHẠM PHẾ

CHỨNG THAI HÀN

CHỨNG THAI NHIỆT

CHƯNG THẬN ÂM DƯƠNG ĐỀU HƯ

CHỨNG THẬN ÂM HƯ

CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN

CHỨNG THÀNH DƯƠNG không THĂNG

CHỨNG THẬN KHÍ HƯ

CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG THẬN KHÍ không BỀN

CHỨNG THẬN KHÍ không NẠP

CHỨNG THẬN TINH BẤT TÚC

CHỨNG THẤP ĐÀM

CHỨNG THẤP Khàn

CHỨNG THẤP NHIỆT

CHỨNG THỰC THƯỜNG TỲ VỊ

CHỨNG THỦY ÂM Ứ ĐỌNG TRONG

CHỨNG THỦY HÀN SA PHẾ

CHỨNG THỦY KHÍ LANG TÂM

CHỨNG THỦY THẤP TRÀN LAN

CHỨNG TiỂU TRƯƠNG HƯ HÀN

CHỨNG TiỂU TRƯƠNG KHÍ TRỆ

CHỨNG TRỞ CAN không GIÁNG

CHỨNG TRỌC ÂM không GIÁNG

CHỨNG TÝ DƯƠNG HƯ

CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM

CHỨNG TÝ KHÍ HƯ 

CHỨNG TÝ không ThànG HUYẾT

CHỨNG TÝ PHẾ KHÍ HƯ

CHỨNG TÝ THẬN DƯƠNG HƯ

CHỨNG TỲ VỊ DƯƠNG HƯ

CHỨNG TỲ VỊ HƯ HÀN Ở TRẺ EM

CHỨNG TỲ VỊ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG TỲ VỊ THẤP NHIỆT

CHỨNG TỲ VỊ THỰC TRỆ Ở TRẺ EM

CHỨNG VỊ ÂM HƯ

CHỨNG VỊ CƯỜNG TỲ NHƯỢC

CHỨNG VỊ HÀN

CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM

CHỨNG VỊ KHÍ HƯ

CHỨNG VỊ KHÍ PHƯƠNG NGHỊCH

CHỨNG VỊ NHIỆT

CHỨNG VỌNG ÂM

CHỨNG VỌNG DƯƠNG

CHƯNG VỌNG DƯƠNG

CHỨNG XUNG NHÂM không BÊN

CHƯNG XUNG NHÂM NHIỆT CHỨNG

CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ 

CHỨNG XUNG NHÂM Ứ TRỞ

CHỨNG XUNG NHÂM HƯ SUY 

HỘI CHỨNG BỆNH ÂM HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH BĂNG HUYẾT

HỘI CHỨNG BỆNH DƯƠNG HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT THẬN

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT NHIỆT

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT TÁO

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT Ứ

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ HÃM

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ NGHỊCH

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ THOÁT

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ TRỆ

HỘI CHỨNG BỆNH TÂM KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

HỘI CHỨNG XUNG NHÂM Ứ TRỞ

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!

Thông tin trên Website :

www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.

. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH