CHỨNG CAN ÂM HƯ

I. Khái niệm

Chứng Can âm hư là một nhóm chứng trạng do âm huyết của can bất túc, mất sự nhu nhuận, gân mạch không được nuôi dưỡng, hoặc âm không chế dương, hư nhiệt từ trong sinh ra gây nên bệnh. Phần nhiều do mất huyết quá nhiều, ốm lâu hao tổn, cướp đoạt can âm gây nên.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau đầu chóng mặt, mắt khô sợ ánh sáng, hai mắt tối xầm, hoặc quáng gà, tai ù sườn đau, tâm phiền hay cáu giận, móng tay chân không nhuận tặc bắp thịt máy động thậm chí vùng mặt có cảm giác nóng bừng, miệng ráo họng khô, gò má và môi đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt mồ hôi trộm, mắt ngủ hay mê, lưỡi đỏ tia ít rêu, mạch Huyền Tế Sác. Phụ nữ có thể hư chứng trạng kinh nguyệt ra muộn, lượng ít hoặc bế kinh.

Chứng Can âm hư thường gặp trong các bệnh Hiếp thống, Huyễn vậng, Đấu thổng, Hư lao, Nội thương phát nhiệt, Hân chứng, Bất mị, Bạch tình sáp thống, Thanh manh, Cao phong tước mục và Kính nguyệt ra muộn, Bế kinh, Băng lậu V.V...

Cần chuẩn đoán phân biệt với các chứng Thận âm hư, chứng Âm hư dương can, chứng Can hỏa thượng viêm, chứng Can Thận âm hư.

II. Phân tích

Chứng Can âm hư là chứng hậu thường gặp trong lâm sàng, cũng có thể xuất hiện trong nhiều tật bệnh khác.

Trong bệnh Hiếp thông (đau sườn) xuất hiện chứng Can âm hư, đặc điểm chứng trạng là đau sườn âm ỉ, dàng dai không dứt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền Tế mà sác, đó- là âm huyết của Can bất túc, không nuôi dưỡng kinh mạch mà thành bệnh. Mục Hiếp thống thống luận sách Kim quĩ dực có nói: "Nói Can hư tức là nói Can âm hư; Âm hư thì mạch đi gấp gáp; mạch của Can qua Cách và giải ra ở liên sườn, âm hư huyết ráo thì kinh mạch mất sự nuôi dưỡng gây nên đau". Điều trị nên dưỡng âm nhu Can, cho uống bài Nhát quán tiễn (Liều chiêu y thoại).

Nếu các bệnh Huyễn vựng, Đầu thống xuất hiện chứng Can âm hư, thì có đặc điểm chứng trạng là đầu quay quát không muốn mở mắt, đau đầu liên miên, tai ù như ve kêu, phần nhiều do Can âm bất túc, thanh khiếu không được nuôi dưỡng gây nên; Điều trị nên tư âm dưỡng Can, cho uống bài Kỷ cúc địa hoàng hoàn (Y cấp) gia giảm.

Trong bệnh nội thương phát nhiệt xuất hiện chứng Can âm hư, thường có chứng triều nhiệt vào buổi chiều và ban đêm, hoặc lòng bàn tay chân nóng, miệng đắng họng khô, phiền não không yên, đây là do Can âm bất túc, âm không chế dương, hư nhiệt từ trong gây nên; điều trị nên tư âm dưỡng Can thanh nhiệt, cũng có thể áp dụng nhất quán tiễn gia giảm.

Trong Hân chứng xuất hiện chứng Can âm hư, phần nhiều ra mồ hôi trong khi ngủ, tỉnh dậy thì cầm ngay, hư phiền kém ngu, sợ sệt không yên; đây là do Can âm bất túc, âm khuy hòa vượng, âm không giữ gìn ở trong gây nên bệnh; mục Hãn chứng sách Y học chính truyền có viết: "Đạo hãn là trong khi ngủ mồ hôi vã ra như tắm, tỉnh dậy mới biết, thuộc Âm hư, chủ yếu là do vinh huyết; Điều trị nên tư âm giáng hỏa tiễn hãn, có thể cho uống Đương qui Lục hoàng thang (Lan thát bí tàng) gia giảm.

Chứng Gan âm hư xuất hiện trong bệnh Hư lao, ngoài những chứng trạng gầy còm, sắc mặt đỏ bừng, mộng tay chân không tươi, chân tay tê dại hoặc cơ bắp máy động thường kiêm cả chứng trạng hư tổn của các Tạng Phủ khác, vả lại bệnh trình kéo dài, khó khỏi, phần nhiều do âm huyết ở Can bất túc, gân mạch không được nuôi dưỡng gây nên. sách Y tông Kim giám viết, .-"Hai bên sườn đau lan tỏa tới vùng ngực, gán lỏng lẻo không đi được là chứng Can lao" nái lên đặc điểm của chứng này; điều trị nên tư bổ Can âm, cho uống bài Bổ Can thang (Y tông kim giảm).

Bệnh thuộc Nhãn khoa xuất hiện chứng Can âm hư, phần nhiều xuất hiện trong các bệnh trong mắt khô đau, cao phong tước mục, và thanh mánh, chứng trạng đặc điểm là hai mát khô rít, không sưng không đỏ, sợ ánh sáng chói hoặc quáng gà, nhìn mọi vật không rõ thậm chí không phân biệt nổi người và vật dần dà đi đến không nhìn thấy gì; Đây là do Can âm bất túc, tinh huyết sụy tổn, mắt không được nuôi dưỡng gây nên Sách Chư bệnh chứng hậu luận, viết: "Mắt là ngoại hậu của Can, ... nếu chất dịch cạn kiệt thì khô rít", điều trị nên dưỡng Can sáng mắt, cho uống bài Minh mục địa hoàng thang (Thám thị giao hầm)

Trong bệnh Phụ khoa xuất hiên chứng Can âm hư, có những chứng trạng đặc điểm như kinh nguyệt ra muộn, lượng ít, sác đỏ hoặc hơi nhạt hoặc vài tháng không hành kinh dẫn đến Bế kinh, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế v.v. . Đây .là do Can huyết bất túc, xoang nhãn suy hư, huyết hư không đầy gây nên bệnh; Điều trị nên tư Can điều kinh, có thể dùng Nhất quán tiễn gia giảm.

Can âm bất túc còn có thể xuất hiện trong bệnh Băng lậu, có chứng trạng đặc điểm là hành kinh ra đầm đìa không dứt, lượng nhiều ít không nhất định, sắc đỏ tươi, bụng dưới đau liên miên, lưng gối ê ẩm, lòng bàn chân bàn tay nóng, đây là do Can âm bát túc, Thận tinh suy tổn, âm hư nội nhiệt, nhiệt ẩn náu ở Xung Nhâm, bức huyết đi càn gây nên, Điều trị nên tư bổ Can Thận, điều kinh chi băng, cho uống bài Điều Can tán (Phó thanh chả nữ khoa). Tóm lại, vì tật bệnh khác nhau, đặc điểm của chứng Can âm hư cũng không giống nhau, nên tùy chứng mà điều trị.

Chứng Can âm hư phần nhiều gặp ở người cao tuổi thể trạng yếu, ốm lâu bị hao mòn hoặc điều trị không kịp thời, điều trị sai lầm, cướp đoạt mất âm dịch vì Can là tiên thiên của phụ nữ, đặc điểm lâm sàng chủ yếu là hành kinh ra muộn, hành kinh đau bụng, hoặc bế kinh, kinh nguyệt ra ít ỏi mà giỏ giọt không dứt, thai động không yên hoặc không thụ thại v.v...

Can là tạng chứa huyết, chủ về sơ, tiết và ưa điều đạt, cho nên việc cát chứa huyết dịch, sự thư sướng của khí cơ, có quan hệ chặt chẽ với Can.

Trong quá trình diễn biến bệnh cơ, Can âm bất túc, huyết không nuôi Can, Can khí không dễ đủ dẫn đến âm hư Can uất. Trái lại chứng Can uất kéo dài, ngũ chi hóa hỏa, cướp đoạt Can âm, cũng có thể làm cho Can âm càng suy.. Vả lại Can Thận đống nguyên, bệnh biến thường có ảnh hưởng lẫn nhau mà hình thành chứng hậu Can Thận âm khuy. Vả lại Can Thận âm khuy, thủy khống hàm mộc, sự thăng phát của Can Dương thái quá dẫn đến Can dương quá găng; Nếu Can dương thăng lên không kiềm chế được, tỉnh huyết suy kiệt, gân mạch không được nuôi dưỡng thì phong từ trong sinh ra, Can phong nội động, bệnh tình càng trở nên nguy hiểm.

III. Chẩn đoán phân biệt

Chứng Thận âm hư với chứng Can âm hư: Can chứa huyết. Thận chứa tinh, tinh huyết cùng một nguồn, biểu hiện Lâm sàng hai chứng này khá giống nhau, đều có thể có những chứng trạng ngũ tấm phiền nhiệt, hư phiền không ngủ được, triều nhiệt mồ hôi trộm, hai gò má đỏ, miệng khô họng ráo, chóng mặt hoa mắt V. V... Theo nguyên nhân bệnh mà bàn, chứng Thận âm hư phần nhiều do phú bẩm bạc nhược, phòng lao quá độ, hạ nguyên khuỳ tổn, hoặc mất huyết hao dịch, hoặc tình chi nội thương hao tổn tinh huyết ngấm ngầm làm tổn thương chân âm mà thành bệnh. Còn chứng Can âm hư phần nhiều từ chứng Can huyết hư phát triển nên, hoặc là Can uất hóa hỏa làm hao tổn Can âm ngấm ngầm cho đến ốm lâu ngày cướp đoạt chân âm gây nên bệnh. Can khai khiếu lên mát, Can âm bất túc không nuôi dưỡng được khiếu của nó cho nên hai mắt khô rít, mắt trông không rõ hoặc quáng gà. Can chủ gắn vẻ tươi đẹp ở móng tay chân, sườn là nơi Can đi qua, nếu âm dịch của Can bất túc không nuôi dưỡng được gân mạch, móng tay chân và kinh lạc thì chân tay tê dại, cơ bắp thịt máy động, móng tay chân không tươi, sườn đau âm ỉ, khác với chứng thận âm hư, thận chủ xương sinh tủy, răng là phàn thừa của xương, lưng là phủ của Thận, Thận âm bất túc, bể tủy rộng không, các khớp xương không được nuôi dưỡng thì chóng mặt ù tai, hay quên, hai chân yếu liệt, gót chân đau, tóc rụng răng lung lay, lưng gối ê ẩm. Chứng Can âm hư, vị trí mắc bệnh ở Can, mạch Huyền Tế Sác. Chứng Thận âm hư, vị trí mắc bệnh ở thân mạch Trầm Tế hoặc Trầm Tế Sác. Đấy là cơ sở chẩn đoán phân biệt.

Chứng Âm hư dương cang với chứng Can âm hư: Can là cương tạng thể âm mà dụng dương. Chứng Âm hư dương cang phần nhiều do Can Thận âm hư, thủy không hàm mộc, hoặc Can khí uất kết, lâu ngày hóa hỏa, hun đốt Gan âm, Can dương cang nghịch lên trên mà thành bệnh. Can dương bùng lên đột ngột, quấy rối thanh không ở trên cho nên đầu trướng choáng váng muốn ngã, đầu nặng chân nhẹ, vả lại có khi do mệt nhọc qáu giận mà dụ phát, bệnh phát sinh nhanh chóng và có đặc điểm là bệnh tình khá nặng. Vì dương trôi nổi ở trên thì mặt hồng mắt đỏ, chất lưỡị đỏ tía, ít rêu, mạch Huyền Tế Sác hoặc Huyện cứng có lực hoặc có thể kèm theo chứng hậu Can Thân âm hư. Còn chứng Can âm hư chủ yếu là do âm dịch của bản thân tạng Can bị suy hư. Âm dịch bất túc, thanh khiếu không được nuôi dưỡng nên nhức đầu liên miên, chóng mặt không muốn hé mắt, bệnh tình tiến triển khá chậm chạp, hai mắt khô rít,không đỏ, không sưng, sườn đau âm ỉ, lưỡi 40 ít rêu. mạch Huyền Tế Sác.

Chứng Âm hư dương cáng phần nhiều thuộc bản (gốc) hư tiêu, mà Cán âm hư là bản, dương cang lên trên là tiêu. Chứng Can âm hự là bán hư, không có hiện tượng tiêu thực. Mấu chốt chuẩn đoán phân biệt là ở chỗ đó.

Chứng Can Thận âm hư với chứng can âm hư: Cân Thận đều ở vị trí hạ tiêu. Thận âm bất túc thường có thể dẫn đến Can âm bất túc, Can âm bất túc củng cố thể dẫn đến Thận âm khuy tổn, chở nên chứng Can Thận âm hư với chứng Can âm hư rất dễ lẫn lộn, cần phân biệt.

Chứng Can âm hư phần nhiều do can huyết hư phát triển nên, hoặc Can uất hóa hỏa, hao tổn Can âm ngấm ngầm, hoặc lâu hao tổn Can âm gây nên. Chứng Can Thận âm hư thường có chứng Can âm hư tiến thêm một bước ảnh hưởng tới Thận, hoặc thất tình nội thương, ốm lâu không khỏi, hao thương phần âm của Can Thận gây nên bệnh. Can âm hư lấy âm dịch của Can bất túc làm biểu hiện chứng trạng chủ yếu. Còn chứng Can Thận âm hư thì không chỉ có chứng trạng của Can âm hư, mà còn xuất hiện cả chứng trạng Thận âm bất túc như lưng và cột sống đau mỏi, bắp chân, và gót chân đau, răng lung lay, rụng tóc, di tinh tào tiết và phụ nữ không thụ thai. Chuẩn đoán phân biệt hai chứng này không khó.

Chứng Can hỏa thượng viên với chứng Can âm hư, cả hai đều có thể xuất hiện hiện tượng nhiệt, đều có thể có các chứng trạng chóng mặt, đau đầu, ù tai, đau sườn, mạch Sác v.v... Nhưng bệnh nhân và bệnh cơ hai chứng này khác nhau. Chứng Can hỏa thượng viêm phần nhiều có đặc điểm chứng trạng là Can uất hóa hỏa, Can khí nghịch lên gây nên. Bởi vì tính của hỏa là bốc lên quấy rối thanh khiếu, cho nên có các chứng trạng đầy trướng đau, nặng hơn thì đầu đau như muốn vỡ, tai ù như nghe đợt sóng, phần nhiêu phát sinh đột ngột hoặc bỗng dưng tai không nghe được gì. Khác với nguyên nhân gây bệnh của chứng Can âm hư, có chứng trạng đặc trưng là đau đầu, liên miên, tai như có tiếng ve kêu, ấn mạnh tay thì đỡ.

Chứng Can hỏa bốc lên do Can kinh có uất nhiệt, có các chứng trạng sườn đau rát, miệng khát thích uống, mắt đỏ sưng đau, miệng đắng họng khô, khí hỏa bốc lên bức huyết đi càn, có thể xuất hiện các chứng xuất huyết như thổ ra huyết, mũi đổ máu. Chứng Can âm hư là do âm dịch bất túc, đường lạc và các khiếu không được nuôi dưỡng, cho nên thấy đau sườn âm ỉ, mát khô rít, miệng khô không muốn uống. Chứng Can hỏa bốc lên lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Huyền Sác có lực thuộc Thực nhiệt. Chứng Can âm hư chứng lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Tế hoặc Huyền Sác Tế, thuộc Hư nhiệt, chuẩn đoán phân biệt không khó khăn.

IV. Y văn trích dẫn.

Bệnh của Can, đau dưới sườn lan tỏa tới bụng dưới, khiến người ta hay giận. Can hư thì mắt lờ mờ không thấy gì, tai không nghe được gì, hay giận, như có người sắp đến bát... Khí nghịch thì đau đầu, tai điếc, má sưng (Tạng khỉ pháp thời luận - Tó Văn).

Can khí bất túc, thì mắt mờ không tỏ, hai bên sườn đau căng, rút gân, thở dài, móng tay chân khô ròn* mặt tái, hay buồn hay sợ như có người sắp đến bắt, Đó là Can khí hư, điều trị nên theo phép Bổ (Chu bệnh nguyên hậu luận, quyển 15).

Chứng trạng Gan hư, mặt tái xanh hay cáu giận, bên trái rốn cố động líhí, ấn vào căng và đau, không muốn ăn uống, ràu rĩ không vui, sợ sệt như có người sắp đến bát, mạch phía trên quan bộ tay phải có hiện tượng âm hư, đó là hậu về bệnh Can (Thánh tế tổng lục, quyển 41).

Thận chứa tinh, Can chứa huyết, người ta tinh huyết điều hoà thì Can Thận khí đầy đủ, làm tốt lên tai mát, cho nên tai mất thông minh, nghe và nhìn rỗ ràng. Nếu tinh huyết suy hao, hai Tạng hư tổn, thì thần thủy không thanh, thị lực yếu, cho nên mắt tối xàm (Thánh tế tổng lục - quyền 102).

Hay ngáp và mặt đỏ, phần nhiều là đo Gâu và Can hỏa. Hay ngáp mà mặt tái và sợ sệt là bệnh ở Tâm Can cùng xuất hiện, mặt đỏ và nhiều nước mắt là có tích nhiệt. Đầu choáng váng không cúi nhìn được là Can hỏa; Huyết khô tóc dựng đứng là Can hư; Mắt không tỏ sợ ánh sáng là Can Thận cùng mạc bệnh (Tứ chẩn quyết vi - quyền 3).

Xem tiếp >>

 

 

CHỨNG ÂM DỊCH KHUY TÔN

CHỨNG ÂM DƯƠNG ĐỀU HƯ

CHỨNG BÀNG QUANG HƯ HÀN

CHỨNG BÀNG QUANG THẤP NHIỆT

CHỨNG BÀO CUNG HƯ HÀN

CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG

CHỨNG CAN ÂM HƯ

CHỨNG CAN ĐƠM NHIỆT

CHỨNG CAN DƯƠNG HƯ

CHỨNG CAN DƯƠNG THƯƠNG CANG

CHỨNG CAN HỎA THƯỢNG VIÊM 

CHỨNG CAN HUYẾT HƯ

CHỨNG CAN HUYẾT Ứ Ở TRẺ

CHỨNG CAN KHÍ UẤT KẾT

CHỨNG CAN KINH THẬP NHIỆT

CHỨNG CAN PHONG NỘI ĐỘNG

CHỨNG CAN VỊ BẤT HÒA

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG HƯ HÀN

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG KẾT NHIỆT

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG TÂN KHUY

CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG THẤP NHIỆT

CHỨNG ĐÀM HÓA QuẤY RỐI TÂM

CHỨNG ĐÀM KHÍ CẤU KẾT

CHỨNG ĐÀM NHIỆT ÚNG TẮC Ở PHẾ

CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ

CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG

CHỨNG ĐÀM Ứ CẤU KẾT

CHỨNG ĐỜM KHÍ HƯ

CHỨNG ĐỜM NHIỆT

CHỨNG ĐỜM UẤT ĐÀM QuẤY NHIỄU

CHỨNG DƯƠNG HƯ

CHỨNG DƯƠNG HƯ

CHỨNG HÀN ĐÀM 

CHỨNG HÀN ĐÀM NGĂN TRỞ PHẾ

CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG

CHỨNG HÀN THẤP

CHỨNG HÀN THẤP

CHỨNG HÀ TRỆ CAN MẠCH

CHỨNG HUYẾT HÀN

CHỨNG HUYẾT HƯ

CHỨNG HUYẾT NHIỆT

CHỨNG HUYẾT THOÁT

CHỨNG HUYẾT THOÁT

CHỨNG HUYẾT Ứ

CHỨNG KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

CHỨNG KHÍ BẾ

CHỨNG KHÍ BẾ

CHỨNG KHÍ HÃM

CHỨNG KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ

CHỨNG KHÍ NGHỊC

CHỨNG KHÍ THOÁT

CHỨNG MẠCH TẾ NGHẼN

CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM

CHỨNG NHIỆT ĐÀM

CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ ÂM HƯ

CHỨNG PHẾ DƯƠNG HƯ

CHỨNG PHẾ KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

CHỨNG PHẾ KHI HƯ

CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ KHÍ SUY TUYẾT

CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM

CHỨNG PHẾ THẬN ÂM HƯ

CHỨNG PHẾ TÝ THẬN DƯƠNG HƯ

CHỨNG PHONG ĐÀM

CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM

CHỨNG PHÒNG HÀN PHẠM PHẾ

CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ

CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM

CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN

CHỨNG TÂM ÂM HƯ

CHỨNG TÂM CAN HUYẾT HƯ

CHỨNG TÂM ĐỜM BẤT NINH

CHỨNG TÂM DƯƠNG HƯ

CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT

CHỨNG TÂM HỎA CAN THỊNH

CHỨNG TÂM HUYẾT HƯ

CHỨNG TÂM KHÍ HƯ

CHỨNG TÂM KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ

CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM

CHỨNG TÂM PHẾ KHÍ HƯ

CHỨNG TÂN DỊCH KHUY TÔN

CHƯNG TÁO BÓN

CHỨNG TÁO ĐÀM

CHỨNG PHẠM PHẾ

CHỨNG THAI HÀN

CHỨNG THAI NHIỆT

CHƯNG THẬN ÂM DƯƠNG ĐỀU HƯ

CHỨNG THẬN ÂM HƯ

CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN

CHỨNG THÀNH DƯƠNG không THĂNG

CHỨNG THẬN KHÍ HƯ

CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG THẬN KHÍ không BỀN

CHỨNG THẬN KHÍ không NẠP

CHỨNG THẬN TINH BẤT TÚC

CHỨNG THẤP ĐÀM

CHỨNG THẤP Khàn

CHỨNG THẤP NHIỆT

CHỨNG THỰC THƯỜNG TỲ VỊ

CHỨNG THỦY ÂM Ứ ĐỌNG TRONG

CHỨNG THỦY HÀN SA PHẾ

CHỨNG THỦY KHÍ LANG TÂM

CHỨNG THỦY THẤP TRÀN LAN

CHỨNG TiỂU TRƯƠNG HƯ HÀN

CHỨNG TiỂU TRƯƠNG KHÍ TRỆ

CHỨNG TRỞ CAN không GIÁNG

CHỨNG TRỌC ÂM không GIÁNG

CHỨNG TÝ DƯƠNG HƯ

CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM

CHỨNG TÝ KHÍ HƯ 

CHỨNG TÝ không ThànG HUYẾT

CHỨNG TÝ PHẾ KHÍ HƯ

CHỨNG TÝ THẬN DƯƠNG HƯ

CHỨNG TỲ VỊ DƯƠNG HƯ

CHỨNG TỲ VỊ HƯ HÀN Ở TRẺ EM

CHỨNG TỲ VỊ HƯ YẾU Ở TRẺ EM

CHỨNG TỲ VỊ THẤP NHIỆT

CHỨNG TỲ VỊ THỰC TRỆ Ở TRẺ EM

CHỨNG VỊ ÂM HƯ

CHỨNG VỊ CƯỜNG TỲ NHƯỢC

CHỨNG VỊ HÀN

CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM

CHỨNG VỊ KHÍ HƯ

CHỨNG VỊ KHÍ PHƯƠNG NGHỊCH

CHỨNG VỊ NHIỆT

CHỨNG VỌNG ÂM

CHỨNG VỌNG DƯƠNG

CHƯNG VỌNG DƯƠNG

CHỨNG XUNG NHÂM không BÊN

CHƯNG XUNG NHÂM NHIỆT CHỨNG

CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ 

CHỨNG XUNG NHÂM Ứ TRỞ

CHỨNG XUNG NHÂM HƯ SUY 

HỘI CHỨNG BỆNH ÂM HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH BĂNG HUYẾT

HỘI CHỨNG BỆNH DƯƠNG HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT THẬN

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT NHIỆT

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT TÁO

HỘI CHỨNG BỆNH HUYẾT Ứ

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ HÃM

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ HƯ

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ NGHỊCH

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ THOÁT

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ TRỆ

HỘI CHỨNG BỆNH TÂM KHÍ ÂM ĐỀU HƯ

HỘI CHỨNG XUNG NHÂM Ứ TRỞ

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!

Thông tin trên Website :

www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.

. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH