Thái dương chủ phần biểu của toàn thân, nếu cảm phải phong hàn thì xuất hiện mạch chứng như phát sốt sợ lạnh, nhức đầu cứng, mạch phù gọi là bệnh thái dương.
Bệnh thái dương có thể chia làm 2 loại hình lớn là “kinh chứng” và phủ chứng”, kinh chứng là bệnh tà còn ở phần cơ biểu, phủ chứng là bệnh biến do tà ở thái dương kinh chưa giải, truyền vào trong bang quang mà gây nên.
- Thái dương kinh chứng là mạch chứng chủ yếu có đủ của thái dương bệnh, do thể chất của từng bệnh nhân khác nhau nên cùng cảm thụ phong hàn mà phát sinh ra bệnh, nhưng trên lâm sàng lại biểu hiện hai loại hình bệnh chứng khác nhau, tức là trúng phong và thương hàn.
+ Mạch chứng chủ yếu của trúng phong là đầu gáy cứng đau, phát sốt, sợ gió, tự đổ mồ hôi, thở mạnh, nôn khan, mạch phù hoãn; Do chỗ có đặc trưng tự đổ mồ hôi, mạch phù hoãn "cho nên gọi là chứng biểu hư".
+ Mạch chứng chủ yếu của thương hàn là đầu gáy cứng đau, phát sốt sợ lạnh, không mồ hôi mà suyễn, nôn, đau mình, khớp xương đau nhức, mach phù khẩn. Do chỗ có đặc điểm "không mồ hôi, mạch phù khẩn" cho nên lại gọi là chứng biểu thực.
Phân biệt giữa trúng phong và thương hàn là ở chỗ tự đổ mồ hôi hoặc không đổ mồ hôi, mạch phù hoãn hoặc phù khẩn, cũng là đặc trưng của biểu thức, biểu hư khác nhau. Nhưng biểu thực, biểu hư trong này chẳng qua là lấy trúng phong thương hàn đối với nhau mà nói; Biểu thực tuy đích xác là thực chứng, nhưng biểu hư lại không thể cho chứng hoàn toàn được vì tà khí vẫn còn ở trong cơ thể.
- Thái dương phủ chứng là do tà khí ở kinh không giãi được, truyền vào bàng quang mà gây nên. Do bệnh tà truyền vào khí phận và huyết phận khác nhau cho nên hai chứng hậu là súc thủy và súc huyết.
+ Chứng súc thuỷ là bệnh tà ở khí phận, mạch chứng chu yếu là phát sốt đổ mồ hôi, phiền khát hoặc khát muốn uống nước, uống nước vào thì nôn mửa, tiểu tiện không lợi, bụng dưới đây mạch phù sác.
+ Chứng súc huyết là bệnh tà ở huyệt phận, biểu hiện lâm sàng là bụng dưới quặn đau hoặc bụng dưới đầy rắn, như phát cuồng hoặc phát cuồng. Tiểu tiện lợi, đại tiện ra phân đen, nhầy như sơn... Chỗ phân biệt chứng súc thuỷ và chứng súc huyết chủ yếu là dựa vào tiểu tiện lợi hay không lợi và có phát cuồng hoặc như phát cuồng hay không. Bởi vì hai trường hợp ấy đều có chứng hậu bụng dưới đầy mà trường hợp trước là tiểu tiện không lợi, không phát cuồng hoặc như phát cuồng. Trường hợp sau là tiểu tiện lợi có như phát cuồng, hoặc phát cuồng. Ngoài ra chứng súc thuỷ bụng dưới đầy tương đối nhẹ mà chứng súc huyết thì tương đối nặng, phần nhiều là bụng dưới quặn đau hoặc bụng dưới rắn đầy, chẩn đoán phân biệt súc thuỷ và súc huyết là 1 vấn đề cần thiết.
Xuất hiện kiêm chứng hoặc biến chứng của thái dương bệnh có quan hệ với thể chất vốn có của bệnh nhân khác nhau và trị liệu không đúng cách. Như vốn có chứng suyễn, có thể vì thái dương trúng phong mà dẫn tới bệnh suyễn tái phát, hoặc như ngày thường vốn có uất nhiệt ở trong lại bị bệnh thương hàn thì có thể kiểm chứng buồn phiền vật vã; hoặc bên trong có chứng thuỷ ẩm lại cảm thụ hàn tà thì có thể đồng thời xuất hiện các chứng nôn khan hoặc suyễn thở, cũng có khi vì thái dương kinh bị cảm thụ tà mà xuất hiện chứng lưng gáy co cứng khó chịu; hợp bệnh của Thái dương + Dương minh thì xuất hiện chứng ỉa chảy hoặc nôn.
Thái dương chủ phần biểu, tổng quan dinh vệ toàn thân, hễ dinh vệ điều hoà thì công năng vệ ngoại chặt chẽ có thể ngăn ngừa không cho ngoại tà xâm nhập, một khi ngoại tà xâm nhập được nhân thể thì dinh vệ đương đầu chịu đựng trước, tà khí và chính khí giao tranh vối nhau, dinh vệ mất sự điều hoà, đây là cơ chế chủ yếu để phát sinh ra thái dương bệnh kinh chứng. Chứng thái dương trúng phong tự đổ mồ hôi mạch phù hoãn và thái dương thương hàn không có mồ hôi, mạch phù khẩn, đều có quan hệ với công năng của dinh vệ mất điều hoà. Trường hợp trước về cơ chế của bệnh tà thuộc về dinh âm không đủ, vệ khí mất chức năng đóng mở ở bên ngoài, trường hợp sau là thuộc vệ dương bị tắc, dẫn đến dinh huyết uất trệ không thông.
Kinh mạch thái dương trên trán, giao nhau tại đỉnh đầu, vào liên lạc với não, xuống gáy men theo trong bắp vai, kinh khí này bị ngoại tà phong hàn bó lại không thông được, cho nên nhức đầu cứng gáy.
Thái dương kinh thuộc bàng quang và tiểu trường do kinh mạch có quan hệ liên lạc sở thuộc với nhau như tâm có tương quan biểu lý với tiểu trường, thận có tương quan biểu lý với bàng quang, cho nên giữa chúng với chúng có quan hệ sinh lý và bệnh lý rất chặt chẽ.
Trong trạng thái sinh lý bình thường thì tiểu trường dẫn tâm hoả đi xuống có công năng tiếp thu thuỷ cốc ở vị để tiêu hoá và gạn lọc chất thanh chất trọc, chất thanh là tân dịch được phân bố toàn thân, chất trọc là cặn bã thông qua đường đại tiểu tiện mà ra ngoài. Bởi vì bàng quang có công năng bài xuất nước tiểu, do đó đường tiểu tiện có bài tiết tiện lợi hay không, công năng khí hoá của bàng quang có bình thường hay không đều có quan hệ trực tiếp với nhau, mà công năng khí hoá của bàng quang lại phải nhờ vào thận, nếu thận khí không đủ sẽ ảnh hưởng đến tác dụng khí hoá của bàng quang mà thuỷ khí không lưu hành làm cho tiểu tiện không lợi hoặc đái nhiều và đái không cầm được.
Ở trạng thái bệnh lý, nếu kinh chứng của thái dương không chữa khỏi, bệnh tà sẽ từ kinh thái dương mà xâm nhập vào phủ thái dương ảnh hưởng đến công năng khí hoá của bàng quang làm cho mất điều hoà đến nỗi khí kết lại, nước đình lại mà sinh ra chứng tiểu tiện không thông lợi, đó là đặc trưng của chứng súc thuỷ; nếu người bệnh vốn có chứng súc huyết nhiệt kết ở hạ tiêu đến nỗi huyết ứ lại không lưu hành được, thi sẽ sinh ra chứng súc huyết bụng dưới rắn đầy tiểu tiện tự thông lợi.
Bệnh thái dương biểu tà chưa giải hoặc điều trị không đúng thì có khả năng làm tổn thương đến thiếu âm tâm, thận mà phát sinh biến chứng. Như “Thái dương bệnh, phát hãn rồi ra nhiều mồ hôi không cầm được, người sợ gió, tiểu tiện khó, chân tay co rút khó co ruỗi được dùng bài “Quế chi gia phụ tử thang” làm chủ “Ra mồ hôi quá nhiều, dưới tâm hồi hộp muốn được ấn vào, dùng bài Quế chi cam thảo thang” làm chủ. Trường hợp trước là tổn thương đến thận dương, trường hợp sau là tổn thương đến tâm dương đều là sự phản ánh bệnh lý do điều trị không đúng mà ra mồ hôi nhiều, ảnh hưởng đến tâm thận.
(Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp)
Xem tiếp >>
CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG
CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ
CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG
CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG
CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ
CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN
CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT
CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN
CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM
CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ
www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH