ĐẠI TRƯỜNG (thuộc hành kim, thuộc dương, quan hệ biểu lí với phế)
Trong y văn có ghi ba thuật ngữ: hồi trường, quảng trường và đại trường. Cụ thể như sau: hồi trường đến rốn sang trái, uốn khúc đi xuống cộng 16 khúc đường kính 1 thốn 1/3, chu vi 4 thốn, dài 2 trượng 1 xích. Quảng trường đi sát cột sống, tiếp thu chất tiêu hoá từ hồi trường vòng sang trái, đi từ trên xuống dưới cột sống chu vi 8 thốn, đường kính 2 thốn 2/3, dài 2 xích 8 thốn. Hồi trường chứa được gạo (cốc) 1 đấu, nước 7 thăng rưỡi, còn quảng trường chứa được gạo (cốc) 9 thăng 8 phân 1. Nếu cộng cả hồi trường và quảng trường thì ta có: (hồi tràng 2 trượng 1 xích, quảng trường 2 xích 8 thốn) 2 trượng 3 xích 8 thốn (Linh khu trường vị. Nạn kinh điêu 42), cũng theo tài liệu đó, đại trường nặng 2 cân, 12 lạng, dài 2 trượng 1 xích, chu vi 4 thốn, đường kính 1 thốn, đến ngang rốn rẽ sang phải có 16 khúc, chứa gạo (cốc) 1 đấu, nước 7 thang rưỡi. Theo ý kiến của tác giả Trung Quốc quảng trường tương đương đoạn đại tràng ngang, đại tràng xuống, trực tràng, còn hồi tràng gồm hồi tràng và đại tràng lên, thì khái niệm đại tràng của y học cổ truyền theo miêu tả là có cả phần hồi tràng).
Công năng chủ yếu của đại trường là chủ việc truyền tống các chất cặn bã.
“Đại trường là cơ quan truyền đạo, biến hoá xuất yên”. Truyền đạo có nghĩa là vận chuyển, biến hoá có nghĩa là biến các chất cận bã thành phân.
Đại trường tiếp nhận các chất cận bã của thức ăn, đồ uống, Chất cặn bã này tức là chất trọc, trong chất trọc này lại phân làm chất thanh và chất trọc, chất thanh được đại tràng tiếp tục hấp thu và chất trọc chuyển thành phân. Khi phân đã hình thành thì đại tràng tống phân ra ngoài cơ thể qua hậu môn. Nếu chức năng của đại trường tốt, thì việc hình thành phân bình thường, phân thành khuôn đẹp, và viêc tống phân ra ngoài bình thường.
Các chứng và hậu của đại trường
Về phần thanh trọc hình thành phân: nếu do hàn thì phân nát, có phân có nước như phân vịt, nếu do nhiệt thì phân khô, nặng thì vón hòn, đen.
Về tống phân ra ngoài: nếu là hư thì đi ngoài dễ, xong rất nhanh, có khi đi són, ỉa đùn, nếu là thực thì phân khô, phải ngồi lâu, phải rặn nhiều thậm chí phải thụt.
Thường do nhiệt tà vào lí kết với phân ở đại trường, do âm hư nội nhiệt (hư nhiệt).
Chứng trị
Chứng và hậu của thực nhiệt: bụng đầy đau, phân rắn, khô và vón hòn, tiểu tiện đỏ ít, triều nhiệt, rêu lưỡi vàng khô, mạch thực hữu lực, nếu nặng nhiệt tà bốc lên có thể gây mê sảng, phiền táo không yên.
Phép điều trị: công hạ tiết nhiệt.
Phương thuốc: nếu nhẹ dùng điều vị thửa khí thang.
Đại hoàng 3 đồng cân (để công hạ tiết nhiệt), mang tiêu 3 đồng cân (làm mềm phân, giúp đại hoàng tiết nhiệt), chích cam thảo 1,5 đồng cân (để ích khí hoà vị).
Nếu phân vẫn chưa ra, dùng tiểu thừa khí thang: đại hoàng 3 đồng cân (để ích khí hoà vị), hậu phác 2 đồng cân chỉ thực 2-3 đồng cân (để hành khí tán kết giúp đại hoàng tống phân ra ngoài).
Chứng và hậu của âm hư nội nhiệt làm cho đại trường thiếu tàn dịch gây táo bón: ỉa khó, phân khô, bón, tiểu tiện nhiều lần, huyết hư, giai đoạn sau của bệnh nhiệt.
Phép điều trị: gia vị tứ vật phương
Sinh địa 5 đồng cân (để lương huyết tư âm), đương quy 5 đồng cân 1 lạng (để bổ huyết hoạt huyết), bạch thược 3 đồng cân (để liễm âm dưỡng huyết), xuyên khung 1-2 đồng cân (để lí khí ở trong huyết), đại hoàng 1 đồng cân (để thông hạ), chỉ xác 1 đồng cân (để lí khí), có thể thêm đào nhân 2 đồng cân (để nhuận táo).
Thường do vào mùa hè ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều chất sống lạnh do ăn thức ăn bẩn, thấp thử nhiệt độc theo thức ăn xâm nhập, kết tụ lại và đi xuống đại trường làm tổn thương khí, huyết gây nên.
Chứng trị:
Chứng và hậu: đau bụng phân lỏng, mót rặn, hoặc phân có máu, hậu môn nóng rát, nước tiểu ít, đỏ, rêu lưỡi vàng cáu, mạch thường huyền hoạt sác.
Phép điều trị: thanh nhiệt lợi thấp điều khí.
Phương thuốc: Bạch đầu ông thang.
Bạch đầu ông 2 đồng cân (để thanh nhiệt độc ở phần huyết), hoàng liên 3 đồng cân (để thanh thấp nhiệt, làm khoẻ trường vị), hoàng bá 3 đồng cân (để thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu), trần bì 3 đồng cân (để thu sáp, chỉ lị).
Thường do bị lạnh (ngủ không đắp bụng) hoặc do dương khí hư.
Chứng trị
Chứng và hậu: thường thấy sôi bụng đau bụng, phân có thức ăn chưa tiêu như phân vịt, chân tay lạnh, người lạnh.
Phép điều trị: ổn trung tán hàn.
Nếu do hàn tà ở ngoài vào dùng
Phương thuốc: lương phụ hoàn (xem vị hàn)
Cao lương khương (riềng già) 3 đồng cân (để ôn vị tán hàn), hương phụ (củ gấu) 3 đồng cân (để lí khí, hành khí, chỉ đau). Cũng có thể dùng ngay gừng tươi 3-4 lát nhai nuốt dần nước gừng hoặc chiêu bằng chén nước nóng (lượng bằng chén hạt mít - không nên dùng nhiều nước, vì làm loãng chất của gừng, giảm tác dụng ôn vị tán hàn chỉ nôn của nó).
Nếu do dương khí hư dùng
Phương thuốc: lí trung hoàn gia phụ tử (xem tì dương hư).
Can khương 2 đồng cân (để ôn trung khu hàn ở tì vị), nhân sâm 2 đồng cân (để bổ nguyên khí), bạch truật 3 đồng cân (để kiện tỳ táo thấp), cam thảo 2 đồng cân (để ích khí hòa trung).
Nếu tì dương hư lại có phòng hàn nhập vào người thì gia phụ tử 1 đồng cân (để ôn dương khu hàn).
(Theo Thaythuoccuaban.com tổng hợp)
Xem tiếp >>
CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG
CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ
CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG
CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG
CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ
CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN
CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT
CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN
CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM
CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ
www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH