Sự phân loại chứng trạng của ngũ tạng lục phủ là phương pháp phân loại dựa trên cơ sở bệnh lý biến hóa của các tạng phủ mà quy nạp lại. Dựa vào chức năng sinh lý của tạng phủ, phủ kỳ hằng và công năng khí hóa của các cơ quan tổ chức trong cơ thể làm cương lĩnh để biện chứng các chứng bệnh riêng rẽ cũng như sự phối hợp các chứng trạng của các cơ quan tổ chức, tạng phủ trong cơ thể; về cơ bản cũng giống như phân chứng hậu của lục kinh, vệ khí, dinh huyết và tam tiêu.
Sự phân biệt chứng trạng của ngũ tạng lục phủ, ngoài việc nêu rõ tật bệnh ở chỗ nào, còn phải phân tích thuộc tính của chứng hậu về hư thực, hàn nhiệt thì trong lâm sàng mới có thể nhận thức và xử lý tật bệnh được chính xác, sát đúng với bệnh tật. Đồng thời ngũ tạng, lục phủ là một chỉnh thế có liên hệ với nhau rất mật thiết, giữa ngũ tạng với nhau có sẵn quan hệ sinh khắc, chế hóa; giữa tạng với phủ lại là quan hệ biểu lý với nhau. Do sự ảnh hưởng lẫn nhau đó mà làm cho bệnh tật biến hóa phức tạp, cũng vì thế mà trong khi biện chứng, không những cần phải phân loại và xác định tính chất của các chứng hậu mà còn phải nắm vững quy luật diễn biến và giai đoạn bệnh lý.
Tâm là chủ tể của nội tạng, lại là then chốt của huyết dịch tuần hoàn khắp trong cơ thể. Chức năng tạng tâm: "Tâm tàng thần", "Tâm chủ huyết" đều là nói rõ sự trọng yếu về công năng của tâm; tất cả những bệnh có liên quan đến thần chí và huyết dịch như các chứng: Tâm rung động, kinh sợ, tinh thần hôn mê, nói sảng, thổ huyết, chảy máu mũi, máu miệng...có quan hệ với tâm. Cho nên tâm bị bệnh cũng thường thấy biểu hiện ra các chứng: Lưỡi đỏ, lưỡi sưng, tự đổ mồ hôi, mồ hôi trộm. Tâm bào lạc là vệ ngoại của tâm, tuy nó có nhiệm vụ riêng khác nhưng trong bệnh chứng thì không tách rời khỏi tâm được; chứng hậu của tâm đều là chứng hậu của tâm bào lạc. Mối quan hệ biểu lý: Tiểu trường là phủ, tâm là tạng, tạng và phủ có liên quan mật thiết với nhau, nếu tâm có bệnh, cũng thấy xuất hiện chứng trạng của tiểu trường, ngoài ra bệnh phát sinh ở những chỗ đi lại của kinh mạch thủ thiếu âm cũng thuộc phạm vi của bệnh tâm...
Chứng hậu về tâm nhiệt: Mặt đỏ, lưỡi khô, đầu lưỡi đỏ khô, khát muốn uống nước, 2 mắt đau nhức, đỏ sưng, sợ ánh sáng, dưới lưỡi sưng và cứng, hoặc thổ huyết, chảy máu miệng máu mũi, hoặc ngực nóng bức không ngủ được, hoặc nói sảng, nói cuồng, cười nói huyên thuyên, hoặc lồng ngực nóng, đau nhức như kim châm, mạch hồng sác; Nếu nóng ở tâm truyền xuống tiểu trường, thì sẽ xuất hiện ra các chứng tiểu tiện vàng sẫm hoặc tiểu tiện ra huyết.
Chứng hậu về tâm hư: Lưỡi nhợt, trí nhớ giảm, sợ sệt không yên, mất ngủ, hay mơ mộng hoảng hốt, đảo điên, trong tâm rung động, hồi hộp, khó thở, hồi hộp đánh trông ngực khi gắng sức, trong tâm bồn chồn khó chịu, vùng tâm bỗng nhiên đau dữ dội, đau lan ra sau lưng, sắc mặt khô nhợt, cuống lưỡi cứng, thường lo sầu, nếu tâm hư nhược quá, tự nhiên ngã lăn hôn mê, mạch thường tế nhược. Nếu tâm dương hư thì tự đổ mồ hôi, nếu tâm âm hư thì ra mồ hội trộm; Nếu tâm thận bất túc, tâm thận bất giao thì gây ra di, mộng tinh...
Bảng tổng hợp những chứng trạng thường gặp của tạng tâm
Biểu hiện Bệnh chứng |
Chứng trạng |
Rêu lưỡi |
Mạch |
Quan hệ với tạng khác |
Tâm hư |
Tâm hồi hộp, mất ngủ, tự đổ mồ hôi, sức suy nghĩ kém |
Lưỡi nhợt ít rêu |
Tế nhược |
Có thể do Tỳ hư sinh hóa không tốt gây nên |
Tâm nhiệt |
Trong ngực phiền nóng, miệng khát, tiểu tiện vàng,sẻn |
Đầu lưỡi đỏ hoặc điểm xuất huyết |
Sác |
Có thế do Can khí quá vượng hóa hỏa |
Nhiệt truyền tâm bào |
Sốt cao bứt rứt vật vã, tinh thần không minh mẫn, nói nhảm |
Lưỡi đỏ |
Hồng sác |
Phần nhiều do ngoại cảm nhiệt tà |
Đàm nhiễu loạn thần minh |
Thần chí thất thường, nói năng không chuẩn; Nếu nặng thì thần chí hôn mê, bất tỉnh nhân sự. |
Rêu nhiều dày bẩn |
Hồng thực hoặc trám hoạt |
Thất tình nội thương hoặc nhiệt bệnh hoặc nội phong |
Nguyên nhân chủ yếu do ngoại cảm nhiệt tà cực mạnh hoặc bẩm tố chính khí hư yếu khi cảm nhiễm nhiệt tà truyền vào tâm bào, làm cho thần chí bị quấy nhiễu, thường thấy các chứng: Sốt cao, bứt rứt, vật vã, tiểu tiện vàng sẻn, tinh thần không minh mẫn, nói nhảm; chất lưỡi đỏ; mạch hồng sác.
Nguyên nhân chủ yếu do trọc tà đờm thấp uất lại bên trong tâm bào ảnh hưởng đến vận hành kinh huyết làm nhiễu loạn thần minh, tinh thần khuất tắc, lúc tỉnh lúc mơ, khóc cười thất thường, nói năng không chuẩn; nếu nặng thì thần chí hôn mê, bất tỉnh nhân sự; rêu lưỡi dầy mà bẩn; mạch trầm hoạt hoặc hồng thực.
Bệnh tâm còn chịu sự ảnh hưởng của những tạng khác mà phát sinh ra bệnh. Như thận âm bất túc, thủy hỏa không nương tựa được nhau mà dẫn đến tâm hỏa vượng gọi là "thủy không tế hỏa"; có khi vì tỳ vị hư mà dẫn đến tâm hư, gọi là "tâm tỳ lưỡng hư". Nếu vì can khí quá vượng mà tạo thành tâm hỏa thượng cang gọi là "mộc vượng sinh hỏa". Những loại chứng trạng ấy tuy biểu hiện nặng nề về tâm mà bệnh cơ lại liên quan với tạng khác, trên lâm sàng thường xuất hiện một số chứng trạng của những tạng phủ hữu quan là lẽ tất nhiên (như thận âm bất túc, thủy hỏa không nương tựa được nhau dẫn tới tâm hỏa vượng, xuất hiện một số chứng trạng của thận âm hư), khi chữa phải nghĩ tới tạng phủ tương quan mà chiếu cố cả hai mặt.
Công năng chủ yếu của tiểu trường là phân thanh trọc, hấp thu chất tinh hoa của ngũ cốc, chất thanh thì thăng, chất trọc thì giáng xuống đại trường. Khi tiểu trường có bệnh sẽ làm cho đại tiểu tiện mất bình thường. Nếu tiểu trường không phân thanh trọc thì thủy dịch không thể thấm thấu ra ngoài, ngũ cốc không tiêu hóa, phân biệt được, gây ra hiện tượng tiểu tiện không thông, ỉa chảy. Tiểu trưdng có quan hệ biếu lý với tâm, khi tiểu trường biểu hiện bệnh lý thì tâm cũng bị ảnh hưởng.
Chứng hậu của tiểu trường là: Bụng sôi, ỉa chảy, hoặc phân đi ra máu mũi lẫn lộn, bụng dưới đau, rêu lưỡi mỏng trắng, tiểu tiện trong mà nhiều, hoặc đi luôn mà không thông. Mạch tế nhược.
Bảng tổng hợp những chứng trạng thường gặp của phủ tiểu trường
Biểu hiện
Bệnh chứng Chứng trạng Rêu lưỡi Mạch Quan hệ với tạng khác
Chứng tiểu trường hư hàn Bụng sôi, vùng quanh rốn đau, đại tiện lỏng hoặc ỉa chảy, tiểu tiện đi luôn hoặc không thông lợi. Lưỡi đỏ nhợt, rêu mỏng trắng Tế nhược.
Chứng tiểu trường thực nhiệt Tâm phiến, tiểu tiện vàng sẻn, miệng lưỡi lở loét, trong âm hành đau, bụng đầy tức, trung tiện được thì dễ chịu. Lưỡi đỏ
Rêu lưỡi vàng Hoạt sác Thường do tâm đưa nhiệt xuống tiểu tràng
Tiểu trường khí thống Bụng dưới trướng đau, đau xuyên cả ra eo lưng, hoặc chạy xuống dưới thỉ đau cả âm nang hoặc kéo xuống đau cả tinh hoàn. Lưỡi rêu trắng Trầm hoặc Huyền
Chứng hậu của tiểu trường thực nhiệt là: Bụng vùng quanh rốn đầy trướng trung tiện dễ chịu, chứng đau Tiểu trường khí thông đau lan ra sau lưng, kéo xuống tinh hoàn, hoặc tiểu tiện vàng sẫm, sẻn, ngọc hành đau buốt, hoặc nóng rét, tâm phiền. Rêu lưỡi vàng trơn rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ, lưỡi lở loét. Mạch hoạt sác; Nếu nhiệt khí độc kết lại ở tiểu trường thì có thể làm thành bệnh trường ung (mọc mụn trong ruột).
Biểu hiện: Bụng dưới trướng đau, đau xuyên cả ra eo lưng, hoặc chạy xuống dưới thì đau cả âm nang hoặc kéo xuống đau cả tinh hoàn, tiểu tiện bình, thường, đại tiện không thông lợi; rêu lưỡi trắng; mạch trầm hoặc huyền.
Nếu tâm kinh đưa nhiệt xuống tiểu tràng thì thấy chứng tiểu tiện vàng sẫm, sẻn, hoặc đi luôn mà không thông, miệng khát tâm phiền. Lưỡi đỏ, rìa và đầu lưỡi lở loét; mạch tế sác.
(Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp)
Xem tiếp >>
CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG
CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ
CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG
CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG
CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ
CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN
CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT
CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN
CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM
CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ
www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH