CAN (thuộc hành mộc thuộc âm, quan hệ biểu lí với đởm)
Nằm ở dưới cơ hoành, có hai lá bên phải và bên trái, bên phải 3 lá, bên trái 4 lá, nặng 2 cân 4 lạng (Y học hiện đại: gan ở bên phải dưới co hoành có 4 thùy (thùy phải to, thùy trái nhỏ, thùy đuôi, thùy vuông) nặng từ 1 kg đến 2kg, nằm dưới cơ hoành. Bên dưới lá lách không phải gan, dài 12cm, rộng 7cm, dầy 2,5cm nặng ước 200g).
Can có các công năng chủ yếu sau: can là cơ quan tướng quân, chủ mưu lự, can tàng huyết, can chủ cân, can khai khiêu ở mắt.
Can là tường quân (võ tưởng) hàm ý chỉ huy hoạt động của chi thể là cho cơ thể vân động có ý thức tốt, can chủ mưu lự, hàm ý can chủ đạo các hoạt động tình chí tư duy (như người tham mưu vạch ra các kế sách). Khí của can cấp thích điều đạt, thích toả ra không ứ tụ lại. Can thuộc mộc, ứng với mùa xuân, dương khí bắt đầu vượng vì vậy nó còn tác dụng phân bố khí dương đi toàn thân để đảm bảo cho hoạt động của thân thể và tình chí. Cho nên người ta còn gọi công năng này của can là can chủ sơ tiết. Cũng có tác giả còn liên hệ với quan hệ tương khắc giữa can mộc và tì thổ. Thông qua tác dụng sơ tiết này, can đã giúp cho tì thổ, vị thổ hoàn thành tốt công năng nhào trộn thức ăn và vận hoá các chất tinh vi của thức ăn.
Can tàng huyết nghĩa là can là nơi tàng trữ huyết và điều hoà lượng huyết cung cấp cho toàn thân và cho từng tang phủ tuỳ nhu cầu lúc đó. Khi bộ phận cần huyết được cần cung cấp đủ huyết thì mới hoạt động tốt. Vì vậy “mắt thụ huyết thì nhìn được, chân thụ huyết thì đi được, bàn tay thụ huyết thì nắm được, ngón tay thụ huyết thi cầm được . Khi nghỉ ngơi, không cần thêm huyết để làm việc nữa, thì huyết lại trở về can. Vì vậy, “khi ngủ, huyết quy về can . Như vậy, kích thước và trọng lượng của can trong một ngày đêm sẽ tuỳ thuộc lượng huyết được tàng trữ trong can.
Can cũng là cân mạc. Vì vậy sách lúc viết “can chủ cân”, lúc viết “can chủ cân mạc”. Cân bám vào xương, vừa làm chắc khớp vừa làm cho khớp vận động theo ý của tướng quân. Can chủ cân vì hoạt động của cân nhờ sự cung cấp huyết của can. Còn có ý nữa là “cân là ngoại hợp của can biểu hiện ra ở móng”. Có hàm ý can khí sung mãn thì can chắc khỏe, can huyết đầy đủ thì móng tay, móng chân bóng, hồng đẹp. “Móng là phần dư của cân” vì vậy cân được nuôi dưỡng tốt thì móng cũng đẹp: thông qua móng có thể biết phần nào trạng thái của can.
Tinh khí của ngũ tạng, lạc phủ đều qua sự vận hành của khí huyết trong kinh lạc tập trung về mắt. Mắt có quan hệ mật thiết với lục phủ ngũ tạng, song chủ yếu với mắt vì “can khí thông lên mắt, can hoà thì mắt nhìn ra ngũ sắc”.
Về tình chí: nếu can khí uất thì căng tức ngực sườn hay thở dài dễ cáu gắt, giận dữ nổi khùng, nếu can khí hư thì kinh hãi như mất hồn, không dám quyết đoán lo lắng mất ngủ, ngủ hay chiêm bao. Nếu can khí nghịch lên đầu thì đau đầu choáng váng. Nếu can sang vị thì ợ, nôn, nghịch sang tì thì đau bụng ỉa chảy.
Về huyết: nếu can huyết hư thì hoa mắt chóng mặt, rối loạn kinh nguyệt (kinh ít hoặc không có kinh), can huyết có nhiệt có thể chảy máu.
Về mắt: nếu có nhiệt mắt đỏ, nếu có phong trực thị chảy nước mắt, nếu có thấp nhiệt vàng mắt, nếu hư quáng gà, hoa mắt.
Về cân: Nếu là chứng thực thì co quắp, run, máy cơ, rung giật, lưỡi rụt cứng lại, bìu dái thun lại, nếu hư, gân nhẽo mềm không cử động được, bìu dái sệ.
Về móng: móng dầy khô, móng nhợt nếu khí huyết hư.
a. Can khí uất
Thường do tình chí không thoải mái là can mất sơ tiết, khí uất lại ở can.
Chứng trị
Chứng và hậu: Cạnh sườn căng tức, có thể đau, ngực không khoan khoái, hay thở dài, dễ cáu gắt, nét mặt đăm chiêu hoặc cau có, ở nữ có kinh nguyệt không đều, trước khi hành kinh thì vú căng tức, mạch huyền, rêu lưỡi mỏng trắng.
Phép điều trị: Sơ can lí khí
Phương thuốc: Sài hồ sơ can tán
Sài hồ 2 đồng cân (để sơ can giải uất), chỉ xác 1,5 đồng cân, trần bì 2 đồng cân (để lí khí ở can ở tì), xuyên khung 1,5 đồng cân, hương phụ 1,5 đồng cân (để lí khí ở trong huyết giúp hành huyết), thược dược 1,5 đồng cân (để ích âm dưỡng huyết, hợp với sài hồ để sơ can lí tì), cam thảo 0,5 đồng cân (để ích khí kiện tì).
Nếu không có đau vùng cạnh sườn, thì bỏ xuyên khung, hương phụ.
Chú ý: Nếu can khí uất lâu, bệnh vào lạc, sẽ có đau nhiều cần thêm ngưu tất, uất kim (để tăng tác dụng hoạt huyết khử ứ).
Nếu khí trệ và huyết ứ nặng thì gia thanh bì, đơn bì, đào nhân, xích thược, hồng hoa.
Thường do can âm hư (thận thủy hư không dưỡng được can mộc), âm hư không đủ sức giữ toàn bộ can dương, một bộ phận can dương (không kết hợp với can âm), xung lên đầu, đây là hội chứng “bản hư, tiêu thực”.
Chứng trị:
Chứng và hậu: Đầu váng, đau, chóng mặt, tai ù, lúc nặng lúc nhẹ, mắt khô, mất ngủ, hay quên, có thể có tê buồn chân tay, lưỡi đỏ ít rêu, mạch thường huyền hữu lực.
Phép chữa trị: tư âm tiềm dương
Phương thuốc: Lục vị hoàn gia vị
Thục địa 4 đồng cân (để tư thận bổ sung tinh), hoài sơn 3 đồng cân (để tư tì), sơn thù 3 đồng cân (để dưỡng can), trạch tả 2 đồng cân (để tả hoả ở thận), đan bì 2 đồng cân (để tả hoả ở can) phục linh 2 đồng cân (để tiềm dương).
Thường do: can khí uất hoá hoả (theo ý khí hữu dư thành hoả).
Đây là chứng thực.
Chứng trị
Chứng và hậu: Đau cạnh sườn, để cáu gắt, đau đầu chóng mặt, tai ù mặt đỏ, mắt đỏ, mồm đắng, tiểu vàng. Nặng thì khạc, nôn máu, máu cam, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác.
Phép điều trị: thanh tả can hoả
Phương thuốc:
Tá kim hoàn (thường gọi tả kim hoàn, vì tả ở đây có nghĩa là tá, ý là phù tá cho kim, vì vậy ở đây dùng từ tá thay từ tả, như vậy dễ hiểu hơn). Hoàng liên 6 đồng cân (để thanh can hỏa), ngô thù du 1 đồng cân (để giảm tính vị hàn khổ của hoàng liên, đưa thuốc vào can).
Nếu kết quả kém dùng.
Phương thuốc: Long đởm tả can thang
Long đởm thảo 2 đồng cân (để tả thực hoả ở can, đờm) hoàng cầm 3 đồng cân, chi tử 3 đồng cân (để tả hoả), sinh địa 3 đồng, đương quy 3 đồng cân (để tư âm dưỡng huyết ở can) sài hồ 3 đồng cân (để dẫn thuốc vào can đởm), trạch tả 4 đồng cân, mộc thông 3 đồng cân, xa tiền tử 3 đồng cân (để dẫn hỏa theo đường nước tiểu ra ngoài), cam thảo sống 2 đồng cân (để điều hòa các vị thuốc).
Nếu có táo bón do hoả kết gây thần chí lơ mơ dùng thêm đại hoàng 3 đồng cân (để công hạ, tiết nhiệt ra theo phân), hoặc dùng:
Phương thuốc: Tả thanh hoàn
Long đởm thảo 2 đồng cân (để tả hoả, thanh nhiệt), đại hoàng 3 đồng cân (để thông hạ tiết nhiệt, đưa nhiệt theo phân ra ngoài), xuyên khung 2 đồng cân, độc hoạt 2 đồng cân, phòng phong 2 đồng cân (để thông kinh lạc). Có thể gia hoàng liên 3 đồng cân, để tả tâm hoả, theo ý mẹ thực (can) tả con (tâm), cam thảo 2 đồng cân (để điều hoà các vị thuốc).
(Theo thaythuoccuaban.com tổng hợp)
Xem tiếp >>
CHỨNG BỆNH THANH ĐƯƠNG không THĂNG
CHỨNG ĐÀM NHIỆT VỊ LẤP TÂM KHIẾU Ở TRẺ
CHỨNG ĐÀM THẤP NGHẼN TRỞ Ở BÀO CUNG
CHỨNG HÀN TÀ NGƯNG ĐỌNG Ở BÀO CUNG
CHỨNG NGUYÊN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG NHIỆT CÚC SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG NỘI NHIỆT BỐC MẠNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ KHIÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHẾ NHIỆT QUÁ THỊNH Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG HÀN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG PHONG NHIỆT XÂM NHẬP Ở PHẾ
CHỨNG PHONG ÔN BỔ PHẦN BiỂU Ở TRẺ EM
CHỨNG SAU KHI ĐẺ BÀI HUYẾT XÔNG LÊN
CHỨNG TÂM DƯƠNG THOÁT ĐỘT NGỘT
CHỨNG TÂM KINH THỰC NHIỆT Ở TRẺ EM
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ THỦY TRẦN LAN
CHỨNG THẬN KHÍ HƯ YẾU Ở TRẺ EM
CHỨNG TÝ HƯ SINH PHONG Ở TRẺ EM
CHỨNG VỊ HÒA THƯỢNG VIÊM Ở TRẺ EM
CHƯNG XUNG NHÂM Ứ THẤP NGƯNG TRỆ
www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH