Sách ‘Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học’ nêu lên hai loại tiểu ra máu:
+ Tâm Hỏa Kháng Thịnh: Tiểu nóng, nước tiểu có lẫn máu mầu đỏ tươi, mặt đỏ, khát, tâm phiền, mất ngủ, miệng lưỡi lở loét, đầu lưỡi đỏ, mạch Sác.
Điều trị: Thanh Tâm tả hỏa, lương huyết, chỉ huyết.
Châm tả Đại lăng, Tiểu trường du, Quan nguyên, Đại đôn (dùng kim Tam lăng châm ra máu).
(Đại lăng là huyệt Du của kinh Tâm bào, tả huyệt này để thanh Tâm tả hỏa; Tiểu trường du và Quan Nguyên là sự kết hợp Bối du và Mộ huyệt để dẫn nhiệt ở Tiểu trường xuống dưới, để lương huyết, chỉ huyết; Đại đôn là huyệt Tỉnh của kinh Can. Tả Can hỏa để giúp tả Tâm hỏa).
+ Tỳ Thận Đều Hư: Tiểu nhiều, trong nước tiểu có lẫn máu, mầu hồng nhạt, tinh thần mỏi mệt, sắc mặt vàng úa, lưng đau, đầu váng, hoa mắt, lưỡi nhạt, mạch Tế.
Điều trị: Kiện Tỳ, ích Thận, ích khí, nhiếp huyết.
Châm Tỳ du, Thận du, Khí hải, Tam âm giao.
(Tỳ du, Thận du là bối du huyệt, để bổ ích Tỳ, Thận, điều hòa công năng của Tỳ Thận; Khí hải, Tam âm giao bổ khí, kiện Tỳ, ích Thận).
Bệnh Án Tiểu Ra Máu
(Trích trong ‘Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn’)
Giang X, nam, 58 tuổi. Tiểu ra máu hơn 7 ngày không cầm, có lúc tiểu không được, có lúc tiểu buốt, gắt, đau, sắc mặt hơi đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Huyền Sác. Xét nghiệm nước tiểu: hồng cầu (+), huyết áp 240/133mmHg. Đã uống kháng sinh, thuốc hạ áp, thuốc cầm máu nhưng không kết quả. Cho uống Chi Xị Tề Thái Thang (Đậu xị 15g, Chi tử (sống) 10g, Tề thái 30g. Sắc uống ngày 1 thang. Sau khi uống 2 thang kiểm tra nước tiểu thấy âm tính,huyết áp hạ xuống mức bình thương. Cho uống tiếp 2 thang trong tuần. Hai năm sau không thấy tái phát.
7. Bệnh đau viêm lóet dạ dầy, hành tá tràng
16. U não
17. Ung thư mũi họng
19. Ung thư tuyến giáp trạng
3.Bệnh bòng gân sai trẹo khớp, tụ huyết