Động kinh là 1 loại bệnh thuộc rối loạn chức năng vỏ não phát sinh đột ngột tái phát nhiều lần. Nguyên nhân loại động kinh tiên phát chưa được xác định, có thể do di truyền, loại động kinh thứ phát là do não khuyết tật bẩm sinh, não chấn thương sản khoa, u não, di chứng chấn thương sọ não, phù não, não áp tăng, co thắt mạch máu não, ký sinh trùng ở não, hoặc do nhiễm độc khí CO, do canxi máu hạ, nhiễm độc kiềm.
Y học cổ truyền cho bệnh động kinh là do can thận bất túc thận thủy và can huyết kém không dưỡng được can mộc sinh can phong động, kinh khí rối loạn đàm mê tâm khiếu gây nên hôn mê, bất tỉnh, chân tay co giật.

Động kinh tiên phát biểu hiện lâm sàng có 4 thể:
Thường có tiên triệu như chân tay tê rã rời, đầu nặng nề, cảm giác khác thường rồi đột nhiên hôn mê ngã xuống, chân tay cơ bắp co giật, sắc mặt tím tái, đầu lắc nghiêng 1 bên, mắt trợn tròng, hàm răng nghiến chặt dễ cắn phải lưỡi, mồm sùi bọt mép. Tất cả các phản xạ mất, đại tiểu tiện không tự chủ. Cơn kéo dài độ 10 giây đến 5 - 3 phút, hết cơn bệnh nhi ngủ yên và lúc tỉnh dậy tinh thần mệt mỏi, đau đầu, khoảng cách thời gian giữa
các cơn là không nhất định, có thể 1 ngày 2-3 cơn.
1 tuần 1 cơn, 1 tháng lên 1 - 2 cơn, có khi 1 năm chỉ vài ba cơn.
Lúc lên cơn chỉ là biểu hiện mất trí choáng váng, lơ mơ tinh thần hoặc nôn, nấc cụt, sắc mặt tái nhợt đầu cúi, mắt nhìn thẳng, không có co giật khoảng 10 giây đến 1 - 2 phút hết và sau đó trẻ chơi sinh hoạt bình thường. Cơn lên thường nhiều lần trong 1 ngày.
Thường ở trẻ lớn có cơn trầm mặc hoặc thao cuồng tự cắn xé mình hoặc làm bị thương người khác, trẻ có khi đi bậy ngoài đường không biết nguy hiểm. Cơn kéo dài vài giờ đến vài ba ngày và sau đó hoàn toàn không nhớ gì.
Lúc cơn chỉ co giật nửa người hoặc 1 bện người đột nhiên mất cảm giác. Loại này có thể phát triển thành cơn lớn.
— Đặc điểm lầm sàng của 1 cơn động kinh lớn điển hình (bất tỉnh ngã xuống chân tay co giật, hàm răng nghiến chặt, sùi bọt mép, mấy giây hoặc mấy phút hết) dễ chẩn đoán, ở trẻ lớn cần phân biệt với hysteria.
— Chú ý hỏi tiền sử tìm nguyên nhân để chữa tận gốc lúc cần phải chụp sọ não và làm điện não đồ.
— Phép trị:
+ Thời kỳ lên cơn: Hóa đàm khai khiếu, bình can tức phong.
+ Thời kỳ không lên cơn: (1) Thực chứng: hóa đàm tức phong. Hư chứng: bổ dưỡng tâm tỳ.
— Huyệt chính: Bách hội, Phong phủ, Đại chùy, Hậu khê, Yêu kỳ.
— Huyệt gia giảm: Lúc lên cơn hôn mê gia Nhân trung, Thập tuyền, Dũng tuyền. Hàm răng nghiến chặt gia Hạ quan, Giáp xa, cơn ban đêm gia Chiếu hải, ban ngày gia Thân mạch, cơn nhỏ phối hợp với Nội quan, Thần môn, Thần đình, cơn cục bộ phối hợp với hợp cốc, Thái xung, Dương lăng tuyền, Tam âm giao.
— Cách châm: Tùy bệnh lý chọn 4 - 5 huyệt, lúc đang cơn châm tả kích thích mạnh, lúc hết cơn, châm mỗi ngày hoặc cách nhật, có thể phối hợp điện châm.
— Tác dụng của huyệt: Bách hội tĩnh não khai khiếu, Phong phủ bình can tức phong (chống co giật), Đại chùy (huyệt giao hội của các kinh dương và mạch đốc) giáng khí hóa đàm, Hậu khê (huyệt du thuộc mộc kinh tiểu trường, thông với mạch Đốc) là huyệt kinh nghiệm trị động kinh trẻ em, Yêu kỳ (huyệt ngoài kinh, vị trí trên mạch Đốc) là huyệt chủ yếu trị động kinh. Cơn lên ban ngày bệnh thuộc dương kiểu phối hợp dùng huyệt Thâm mạch, ngược lại cơn lên ban đêm thuộc âm kiểu dùng huyệt Chiếu hải. Cơn nhỏ, phối hợp Nội quan, Thần môn, Thần đình để dưỡng tâm an thần tĩnh não. Cơn cục bộ, phối hợp với Hợp cốc, Thái xung (huyệt tứ quan) điều hòa khí huyết, thêm huyệt Dương lăng tuyền thư cân, Tam âm giao điều khí 3 kinh âm.
Huyệt chính:
(1) Chứng hư: Thần môn, Nội quan, Tam âm giao, Túc tam lý, Âm lăng tuyền, Thái khê, Cự khuyết.
(2) Chứng thực: Phong phủ, Đại chùy, Cưu vỹ, Phong long, Thái xung.
— Huyệt gia giảm: Do cơn nhiều tinh thần mệt mỏi gia Khí hải (cứu) giảm trí nhớ gia Thận du, Quan nguyên (cứu).
— Cách châm: Mỗi lần chọn 4 - 5 huyệt, châm bổ hoặc cứu. Nên phối hợp uống thuốc bồi dưỡng khí huyết.
. Huyệt Cự khuyết, Cưu vỹ châm nông kích thích nhẹ.
— Tác dụng của huyệt: Thần môn (huyệt nguyên của kinh tâm), Nội quan (lạc huyệt kinh Tâm bào) đều có tác dụng dưỡng tâm an thần, Túc tam lý (huyệt hợp của Vị kinh) là huyệt bổ khí làm mạnh cơ thể, còn có tác dụng hóa đàm lợi thấp, Âm lăng tuyền (huyệt hợp kinh tỳ) hợp với Tam âm giao cùng kinh để kiện tỳ hóa đàm, Tam âm giao (huyệt giao hội của 3 kinh âm) còn có tác dụng điều bổ can thận âm huyết. Thái khê (huyệt nguyên của kinh thận) bổ thận tăng trí nhớ. Cự khuyết (huyệt mộ của tâm) dưỡng tâm an thần, Cưu vỹ (mạch nhâm) giáng khí hóa đàm giải uất là huyệt Chuyên hỗ trợ các vấn đề về sức khoẻ, phù hợp với các tình trạng sức khỏe của mọi bệnh nhân chứng động kinh. Phong long, Thái xung có tác dụng hóa đàm bình can.
Thần môn, tâm, thận, can, não, có thể châm hằng ngày cách nhật hoặc gài kim 3-4 ngày trong tuần.
Chọn 1 trong 2 công thức.
— Bách hội, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
— Can du, Thận du, Tâm du, Túc tam lý.
Chọn 1 tròng 2 công thức huyệt thay đổi.
— Tứ thần thông, Hợp cốc, Thái xung.
— Thận du, Can du, cách du, Túc tam lý.
Châm cứu có thể đạt kết quả tốt trong điều trị bệnh động kinh trẻ em tiên phát nhưng nếu dùng qua 3 liệu trình mà không kết quả phải thay đổi phương pháp.
Nếu cấp cứu bằng châm cứu, chú ý dùng đè lưỡi quấn bông để bảo vệ lưỡi cho trẻ em.
Không nên để những trẻ em động kinh lao động và học tập quá mức, không gây những kích động tâm thần đột ngột, không để "bị cảm gió lạnh hoặc quá nóng bức và không để trẻ đi chơi sinh hoạt một mình.
Phương pháp điện châm và thủy châm chỉ dùng khi không lên cơn, lúc cơn chủ yếu là châm kim hoặc nhĩ châm.
7. Bệnh đau viêm lóet dạ dầy, hành tá tràng
16. U não
17. Ung thư mũi họng
19. Ung thư tuyến giáp trạng
12.Châm cứu chữa động kinh trẻ em
3.Bệnh bòng gân sai trẹo khớp, tụ huyết