Bài thuốc dân gian chữa XƠ GAN

Xơ gan giai đoạn sớm

1. CAN KINH UẤT NHIỆT

Biện chứng đông y:

Can kinh uất nhiệt, thương âm hóa hỏa.

Phương pháp điều trị

Dưỡng âm nhu can, sơ can hòa lạc.

Triệu chứng:

thấy vùng gan đau, ăn không ngon, bụng đầy, miệng khô, buồn nôn, trong lòng bứt rứt không yên, chân phù nhẹ, tiểu tiện vàng đỏ, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế huyền hơi sác

Bài thuốc:

Nhất quán tiễn gia vị.

s địa hoàng 15 Sa sâm 12 Mạch môn 9
qui thân 9 Kỉ tử 9 xuyên luyện tử 6 tử Đan sâm 6
quảng uất kim 9 Mạch nha 12 sinh Miết giáp 12 phấn trư linh 12
xuyên liên 3

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả điều trị :

Bệnh nhân XX, nam, 42 tuổi, cán bộ. Bệnh nhân kể đã 6 năm có gan to, vùng gan đau với bệnh viêm gan không rõ rệt. Có bộ mặt đau gan mạn tính, trên mặt có các u mạch hình sao, củng mạc không nhiễm vàng, vùng lá gan và bụng mềm, bờ gan ở dưới bờ sườn 2 khoát ngón tay, thể chất trung bình, mặt gan nhẵn không gồ ghề, chưa sờ thấy lách, chưa có cổ trướng. Xét nghiệm chức năng gan chưa thấy biến đổi rõ rệt, tỉ số albumin, globulin là 1,3/1. Chẩn đoán lâm sàng là xơ gan giai đoạn sớm.

Hội chẩn đông y: thấy vùng gan đau, ăn không ngon, bụng đầy, miệng khô, buồn nôn, trong lòng bứt rứt không yên, chân phù nhẹ, tiểu tiện vàng đỏ, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế huyền hơi sác. Trị bằng phép dưỡng âm nhu can, sơ can hoạt lạc. Cho dùng bài Nhất quán tiễn gia vị. Tùy bệnh chứng mà gia giảm, trước sau dùng tất cả 35 thang, đồng thời dùng phối hợp các thuốc tây bảo vệ gan, sau khi dùng thuốc thì cảm thấy các chứng cơ bản đều hết, sắc diện từ chỗ gụ xám trở thành có thần sắc, gan mềm đi, điện đi protein bình thường. Sau khi ra viện 2 năm, hỏi lại tình trạng cơ thể vẫn giữ được ổn định, bệnh chưa phát triển lại.

Xơ gan cổ chướng

Biện chứng đông y:

Thấp nhiệt đình trệ.

2. THẤP NHIỆT ĐÌNH TRỆ

Phương pháp điều trị

Ôn trung kiện tì, thanh nhiệt táo thấp.

Triệu chứng:

ăn ít bụng trướng lượng nước tiêu giảm, bụng căng như trống thể hiện sắc mặt xạm đen, mũi đỏ, không đói, tiểu tiện ít, miệng hơi đắng bụng chướng đầy, lưỡi hơi đỏ, rêu đục bẩn, mạch huyền sác.

Bài thuốc:

Đan khê tiêu ôn trung hoàn.

Bạch truật 60 Bạch linh 30 Trần Bì 30
Bán hạ 30 sinh Cam thảo 10 tiêu Thần khúc 30 sinh Hương phụ 45
khổ sâm 15 Hoàng liên 15 cương châm sa 45

sắc uống.

vị thuốc trên sau khi tán thành bột mịn, lấy dấm và nước (mỗi thứ một nửa) trộn thành hồ Thần khúc rồi làm hoàn to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 70-80 hoàn, uống với nước thuốc sau: Bạch truật 18g, Trần bì 3g, Sinh khương 1 lát, Đối với người bệnh hư nặng, thì bỏ vị Hoàng liên, thêm Hậu phác 15g.

Hiệu quả điều trị :

Từ X X, nam, 58 tuổi. Bệnh nhân vốn nghiện rượu, ăn ít bụng trướng. Gần đây lượng nước tiêu giảm, bụng căng như trống. Xét nghiệm chức năng gan thấy tỉ lệ albumin/globulin đảo ngược, chẩn đoán là xơ gan cổ chướng, dùng thuốc đông y và tân dược để chữa nhưng kết quả không rõ rệt. Do người bệnh vốn nghiện rượu nên gan lách đều bị thương tổn, thể hiện sắc mặt xạm đen, mũi đỏ, không đói, tiểu tiện ít, miệng hơi đắng bụng chướng đầy, lưỡi hơi đỏ, rêu đục bẩn, mạch huyền sác. Đó là do thấp nhiệt giao trở, gan lách tổn thương dẫn đến tắc nghẽn đường dẫn mà thành cổ chướng. Cho uống Đan khê tiêu ôn trung hoàn, trước hết đem thuốc hoàn sắc thành thang để uống 10 thang rồi mới dùng thuốc hoàn 500g. Sau khi uống thuốc, bụng chướng giảm dần, tiểu tiện trong và dài, các chứng chuyển biến tốt rõ rệt. Lại cho uống 1000 hoàn, uống xong hết cổ chướng, ăn ngon hơn, kiểm tra chức năng gan, tỷ lệ albumin/globulin trở lại bình thường, đã có thể tham gia công tác như thường. Theo dõi vài tháng thấy sức khoẻ vẫn tốt.

Bàn luận:

Đan khê tiêu ôn trung hoàn do Chu Đan Khuê sáng chế. Dùng bài thuốc này chữa xơ gan, đặc biệt là với bệnh nhân có tỉ lệ albumin/globulin đảo ngược, dù là có cổ chướng hay không đều thu được hiệu quả tốt. Thông thường uống từ 180g đến 210 g là có thể khiến nước tiêu trong và nhiều bệnh nặng thì uống 500g đã được như thế. Một số bệnh nhân sau khi đã hết các triệu chứng bệnh chức năng gan bình thường thì ngừng thuốc, nhưng rồi do không điều độ, làm việc quá sức thi lại tái phát. khi đó lại dùng bài thuốc trên vẫn có hiệu quả tốt. Những bệnh nhân loại này được chữa khỏi đã 20 năm mà vẫn khoẻ mạnh. Vị Cương châm sa trong bài thuốc còn có tên là Châm sa hay Cương sa.

Xơ gan cổ chướng

Biện chứng đông y:

Can uất khí trệ huyết ứ.

3. CAN UẤT KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ

Phương pháp điều trị

Lý khí, hóa ứ, thanh nhiệt, thông phủ.

Triệu chứng:

Người bệnh bụng chướng to như cái trống, gân xanh nổi hằn, vòng bụng đo 86 cm, gõ đục di chuyển rõ, dạ dày căng đầy, lườn nặng khó thở, ăn không tiêu, miệng khát thích uống nước, da thịt nóng hầm hập, miệng đắng khó thở, ăn không tiêu, miệng khát thích uống nước, da thịt nóng hầm hập, miệng đắng đầu váng, ít ngủ, yếu ớt. Mắt hơi vàng, nước tiểu vàng ít, đại tiện bí kết, chân phù có ấn lõm, mạch trầm huyền, lưỡi rêu trắng, rìa có vết tím.

Bài thuốc:

Lý khí hóa ứ tiêu thũng thang.

cù mạch 30 phòng kỳ 9 tiêu mục 5
đình lịch tử 5 chế quân 9 Nga truật 6 Chỉ sác 5
thất tiêu tán 15 Đào nhân 5 Đan sâm 15 xuyên phác 6

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang

. Với bệnh nhân thể hư, thì bỏ Nga truật, thêm Mã tiên thảo 15g. Nếu có tình trạng xuất huyết đường tiêu hóa thì thêm Đại, Tiểu kế mỗi thứ 30g.

Hiệu quả điều trị :

Phan XX, nữ, 40 tuổi, nông dân. Tháng 10-1962 tới khám lần đầu. Người bệnh bụng chướng to như cái trống, gân xanh nổi hằn, vòng bụng đo 86 cm, gõ đục di chuyển rõ, dạ dày căng đầy, lườn nặng khó thở, ăn không tiêu, miệng khát thích uống nước, da thịt nóng hầm hập, miệng đắng khó thở, ăn không tiêu, miệng khát thích uống nước, da thịt nóng hầm hập, miệng đắng đầu váng, ít ngủ, yếu ớt. Mắt hơi vàng, nước tiểu vàng ít, đại tiện bí kết, chân phù có ấn lõm, mạch trầm huyền, lưỡi rêu trắng, rìa có vết tím. Đây là do gan mất thăng bằng, khí huyết uất trệ, kinh lạc ứ tắc, thủy khí ứ đọng. Chữa trị phải hóa ứ, lợi thủy, thanh nhiệt, thông phủ. Cho dùng bài lý khí hóa ứ tiêu thũng thang. Uống 5 thang, phù thũng giảm đi, nước tiểu nhiều lên. Lại dùng bài thuốc ấy hơi gia giảm một chút, cho uống tiếp 5 thang. Sau khi uống xong, bụng khỏi

chướng, gân xanh trên bụng bớt đi, ăn tăng lên, thế bệnh có nhiều chuyển biến khá. Lại dùng Lục quân thang thêm Đan sâm, Mạch nha, Sơn tra, Đương qui để điều lý, uống xen kẽ Vị linh thang gia vị. Cứ như thế liên tục hơn một tháng, cổ chướng rút hết, tinh thần chuyển tốt. Khuyên bệnh nhân kiêng ăn muối 4 tháng. Sau đó đã có thể làm được một số việc trong nhà. Theo dõi hơn 10 năm, tình hình vẫn tốt, bệnh không tái phát.

Xơ gan cổ chướng

Biện chứng đông y:

Can uất khí trệ, tì vị hư tổn.

4. CAN UẤT KHÍ TRỆ TỲ VỊ HƯ TỔN

Phương pháp điều trị

Hành khí lợi thủy, thư can giải uất.

Triệu chứng:

. Toàn thân yếu sức, gầy còm, bụng to dần như cái trống, nước giải ít, màu vàng. Mạch trầm, hoãn.

Bài thuốc:

Thanh oa tán, mẫu kê sâm kỳ thang.

thanh oa tán(ếch 1con) 1 sa nhân 6

Công thức:

Thanh oa tán: ếch 1 con, Sa nhân 6g, Mổ bụng ếch nhét sa nhân vào rồi để ở chỗ râm mát cho khô, sau tán thành bột mịn để dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g, ăn với cháo đường. Mẫu kê sâm kỳ thang: Gà mái đẻ 1 con, Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 30g, Sa nhân 30g. Gà đem vặt lông, mổ bụng, bỏ ruột, giữ lại gan, tim, gói các vị thuốc bằng vải gạc bỏ vào bụng gà, hầm nhỏ lửa cho rừ, bỏ xương và bã. ăn lúc đói, mỗi ngày 2 lần (một thang thuốc trên có thể dùng cho 2-3 ngày). Hàng ngày dùng đồng thời Thanh oa tán và Mẫu kê sâm kỳ thang.

Hiệu quả điều trị :

Khương XX, nam, 47 tuổi, nông dân. Người bệnh tiêu hóa không tốt, bụng chướng, nặng nhất là về ban đêm, đã 7-8 năm, khám ở một bệnh viện chẩn đoán là viêm gan mạn tính, xơ gan giai đoạn đầu. 3 tháng gần đây bệnh nặng lên, ăn uống giảm sút, tiêu hóa kém, bụng chướng tăng. Toàn thân yếu sức, gầy còm, bụng to dần như cái trống, nước giải ít, màu vàng. Mạch trầm, hoãn. Đã rút nước ở bụng 2 lần, mỗi lần 1000ml. Chữa phải hành khí lợi thủy, thư can giải uất. Cho uống phối hợp Thanh oa tán với Mẫu kê sâm kỳ thang. Sau khi dùng thuốc 100 ngày, cổ chướng rút hết, các chứng dần tiến triển, đã có thể làm các công việc chân tay thông thường.

Xơ gan cổ chướng

Biện chứng đông y:

Khí trệ huyết ứ, thủy thấp nội đình.

5. KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ

Phương pháp điều trị

Hoại huyết hóa ứ, ích khí kiện tì, lợi thủy tiêu thũng.

Triệu chứng:

Bài thuốc:

Hoạt can thang.

Kim tiền thảo 30 Sa tiền 30 Bạch linh 30
miết giáp 10 Trạch lan 10 Đại phúc bì 12 Đan sâm 15
Trạch tả 15 Hoàng kỳ 15

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

. Người tì hư thấp nặng thì thêm Thương truật 10g, Hậu phác 6g, ý mễ 15g; người bị gan uất khí trệ rõ ràng thì bỏ vị Hoàng kỳ, thêm Tứ nghịch tán. Nếu ứ tắc ở "lạc", đau nhiều bên sườn, gan lách đều to và cứng thì thêm Thổ nguyên, Nga truật, Tam lăng, Hồng hoa; nếu can âm bất túc, trong máu có nhiệt thì thêm Thủy ngưu giác, Sinh địa, Hạn liên thảo, Đan bì; nếu thấp nhiệt đều thịnh thì thêm Long đảm thảo, Bán chi liên, Khổ sâm.

Hiệu quả điều trị :

Trong mười năm trở lại đây, ứng dụng Hoạt can thang làm bài thuốc chính chữa cho 50 trường hợp bệnh nhân bị cơ gan cổ chướng, hiệu quả thu được khá mĩ mãn: hiệu quả rõ rệt chiếm 70%, có hiệu quả chiếm 20%, không hiệu quả chiếm 10%.

Xơ gan cổ chướng

Biện chứng đông y:

Thấp nhiệt ủng trệ.

6. THẤP NHIỆT ỦNG TRỆ

Phương pháp điều trị

Thanh nhiệt, hóa thấp, trục ứ, tiêu thũng.

Triệu chứng:Sắc mặt vàng võ, mặt có nếp nhăn, lợi xuất huyết, ăn không được, nước tiểu ít, đỏ, mạch huyền sác: chất lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn

Bài thuốc:

Hóa thấp trục ứ tiêu thũng thang.

miếp giáp 30 cù mạch 30 Sa tiền 20
Tam lăng 6 Nga truật 6 Bạch linh 12 Trạch tả 18
xuyên giáp 6 Xích thược 10 Đào nhân 9 tiểu kế 30
phúc bì 12 hồ lô nửa quả

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả điều trị :

Phan XX, nam 45 tuổi, nông sân, Khám lần đầu ngày 18-5-1963. Trong một tháng lại đây bụng mỗi ngày một to ra như cái trống, bệnh viện chẩn đoán là xơ gan cổ chướng kèm tì cang. Gan lách đều to 6cm. Sắc mặt vàng võ, mặt có nếp nhăn, lợi xuất huyết, ăn không được, nước tiểu ít, đỏ, mạch huyền sác: chất lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn. Bệnh này thuộc chứng thấp nhiệt ủng trệ, nước tụ, khí trệ, huyết ứ, cổ chướng. Chữa phải thanh nhiệt, hóa thấp, trục ứ, tiêu thũng. Cho dùng bài hóa thấp trục ứ tiêu thũng thang. Sau khi uống 5 thang nữa, đồng thời pha 30g Đại Tiểu kế nấu thành nước thay trà uống nhiều lần. Uống xong bụng nước rút hết, ăn uống dần tăng lên, lách co lại. Tiếp theo cho thêm một số vị kiện tì dưỡng huyết như Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đương qui v.v... vào bài thuốc trên, uống liền trong hơn 4 tháng. Thời gian uống kiêng muối. Lách bệnh nhân trở lại như bình thường, các chứng bệnh tiêu tan, đã có thể làm một số công việc đồng áng. Theo dõi người bệnh 15 năm, không thấy tái phát.

Xơ gan do tăng áp lực tĩnh mạch cửa (kèm tì cang)

Biện chứng đông y:

ứ huyết nội trở.

7. HUYẾT Ứ ỦNG TRỞ

Triệu chứng:

hai bên sườn bệnh nhân đau nhói hoặc đau âm ỉ rất khó chịu, lợi bị chảy máu ít nhiều, còn ăn uống được Lưỡi đỏ tím, có điểm huyết ứ, rêu mỏng, rài lưỡi ám đen, mạch tế, sáp

Phương pháp điều trị

Hoạt huyết hóa ứ nhuyễn kiên tán kết.

Bài thuốc:

Nhuyễn kiên súc tì thang.

Qui đầu 15 Xuyên khung 9 Tam lăng 9
Nga truật 9 Đào nhân 9 thổ nguyên 9 Đan sâm 30
Sài hồ 12 Trần Bì 12

Sắc uống, mỗi ngày một thang.

Hiệu quả điều trị :

Thôi XX, nam 41 tuổi, công nhân. Bệnh nhân từ năm 1973 phát hiện thấy gan lách bị sưng to, chức năng gan khác thường. Năm 1975 chẩn đoán là viêm gan mạn tính. Từ năm 1977 đến nay, lách ngày càng một to, đi khám ở nhiều bệnh viện đều chẩn đoán là xơ gan do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cường lách, bệnh nhân được khuyên là mổ cắt lách, nhưng bệnh nhân không đồng ý. Ngày 23-2-1979 đến viện điều trị. Khi vào viện, hai bên sườn bệnh nhân đau nhói hoặc đau âm ỉ rất khó chịu, lợi bị chảy máu ít nhiều, còn ăn uống được. Kiểm tra thấy: sức khoẻ nói chung còn tốt, gan to dưới bờ sườn 1,5 cm, lách to dưới bờ sườn 3cm, hơi cứng, ấn đau. Lưỡi đỏ tím, có điểm huyết ứ, rêu mỏng, rài lưỡi ám đen, mạch tế, sáp. Xét nghiệm thấy: chức năng gan bình thường, bạch cầu 3800/mm3, tiểu cầu 76000/mm3. Kiểm tra siêu âm thấy lách dày 5 cm ở dưới bờ sườn 3cm, bờ trên của gan nằm ở gian sườn thứ 6 (7cm), dưới bờ sườn 2 cm. Uống thuốc barit để chụp phim cho thấy tĩnh mạch thực quản ở đoạn dưới giãn nhẹ.

Chứng này là do huyết ứ nội trở gây ra. Điều trị phải loại huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết. Cho dùng bài Nhuyễn kiên súc tì thang, mỗi thang sắc tới còn 300ml, uống một lần vào buổi tối lúc đói. Hai tuanà sau kiểm tra chức năng gan, transaminase glutamic tăng cao đến 36 đơn vị (theo phương pháp cải tiến), bèn ngừng bài thuốc trên, cho dùng bài Kiện can sinh hóa thang: Đảng sâm 15g, Bạch truật (sao) 9-12g, Sơn dược (sống) 30g, Đương qui, Thanh bì, Chỉ xác (sao) mỗi thứ 12g, Đan sâm 15-30g, Bạch dược (sống) 18g, Long đởm thảo, Xuyên liên mỗi thứ 6-9g, Sài hồ 9g, mỗi ngày sắc uống một thang cùng thuốc tây y bảo vệ gan. Sau nửa tháng, transaminase glutamic trở lại bình thường. Tiếp tục uống Nhuyễn kiên súc tì thang, uống thêm Súc tì tán (ngũ linh chi 30g, Nga truật, Tam lăng mỗi thứ 60g, Xuyên sơn giáp 90g, Sài hồ 45g, cùng tán bột mịn, mỗi lần uống 6g, ngày uống hai lần sáng tối. Một tháng sau, gan lách đều thu nhỏ. Nằm viện 96 ngày, khi ra viện bệnh nhân tự thấy khỏi hết bệnh, lưỡi hơi tím nhạt, sáu mạch huyễn hữu lực, chức năng gan bình thường, bạch cầu 5300/m3, tiểu cầu 95.000/mm3. Kiểm tra bằng siêu âm: lách dày 3,5cm. Chụp phim sau khi uống barit thấy hết giãn tĩnh mạch, thực quản. Ra viện tiếp tục điều trị. Sau một tháng khám lại, tiểu cầu lại tăng đến 113.000/mm3. Theo dõi trong 4 tháng, tình trạng tốt, khỏi bệnh.

Bàn luận:

Xơ gan do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, lách sưng to, cường lách thuộc phạm trù tích tụ trong đông y. Tích tụ chia ra chứng tích và chứng tụ. Chứng tích phần lớn thuộc phần huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết. Đơn thuốc Súc tì thang và Súc tì tán được cấu tạo theo phép này, ứng dụng vào lâm sàng thu được hiệu quả mĩ mãn. Trong thời gian điều trị, liều lượng thuốc phải từ ít đến nhiều, tăng dần liều lượng sao cho không tổn thương chính khí (ý nói tình trạng chung và các chỉ tiêu chức năng gan, đôi khi phối hợp uống với Súc tì tán để nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian chữa bệnh. Nhưng phải chú ý định kỳ kiểm tra chức năng gan và xét nghiệm máu, nước tiểu để nắm vững những thay đổi. Nếu bệnh nhên tự cảm thấy chứng bệnh rõ rệt, chức năng gan bị tổn thương nghiêm trọng thì phải giảm liều hoặc ngừng hẳn thuốc, chuyên sang dùng thuốc phù chính của đông y hoặc thuốc bảo vệ gan của tây y để điểu chỉnh cũng có thể dùng bài thuốc Kiện can sinh hóa thang để chữa, đợi chức năng gan chuyển biến tốt mới tiếp tục công trị cho đến khi khỏi hẳn.

Cổ chướng do bệnh sán lá gan giai đoạn muộn

Biện chứng đông y:

Chất độc vào gan, ứ trở lạc, can tì bị thương tổn, thủy thấp trung trở.

8.CAN TỲ THƯƠNG TỔN, THUỶ THẤP TRUNG TRỞ

Triệu chứng:

chướng bụng, ăn kém, phân nát, đi tiểu ít. Bụng to dần lên, toàn thân yếu sức, đi lại khó khăn, hoạt động là thở gấp v thân nhiệt 37o C, mạch đập 72 lần/phút, mạch huyền, hoạt, lưỡi nhạt, rêu trắng bẩn. Huyết áp 104/62 mmHg, tĩnh mạch thành bụng nổi rõ, gõ đục dị ý (vì bụng có nước). Hai chân không bị phù nước rõ rệt.

Phương pháp điều trị

Sơ gan thông lạc, bổ tì ích thận, khử thấp lợi thủy (công trục thủy thấp).

Bài thuốc:

Gia cảm vị linh hoàn (thang

Xương truật 12 Hậu fác 12 vân linh 12
hán Phòng kỷ 12 Trạch tả 12 Qui đầu 12 Thanh bì 10
quảng Mộc hương 6 Nhục quế 4

. Có thể theo cách thông thường sắc uống, cũng có thể chế thành hoàn để uống. Cách chế hoàn: tán bột mịn, nhào nước thành hoàn to cỡ hạt ngô đồng, hong khô, cất trong lọ. Mỗi lần uống 8g, mỗi ngày 2 lần. Hàm ba giáng phàn hoàn: Giáng phàn (thanh phàn), Ba đậu sương với lượng bằng nhau. Bỏ Thanh phàn vào nồi sắt, nung đỏ, khi nung lửa phải to, nếu không tuy nung mà không thấu, tán nhỏ rồi gây bằng rây lụa mắt rất nhỏ. Ba đậu bỏ lớp vỏ trong và ngoài, lấy phần thịt tán nhỏ, ép hết dầu rồi tán lại thành "sương" Trộn đều hai thứ thuốc, cho vào lượng cơm bằng 3/4 nghiền trộn, thêm ít nước sôi, luyện thành hoàn, mỗi viên chứa khoảng 100 mg Ba đậu sương và 100mg Giáng phàn. Khi dùng chú ý uống với nước sôi để ấm sau bữa ăn 2 giờ, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 1-6 viên.

Hiệu quả điều trị :

Lý XX, nam 40 tuổi, nông dân. Từ tháng 3-1979, bắt đầu cảm thấy chướng bụng, ăn kém, phân nát, đi tiểu ít. Bụng to dần lên, toàn thân yếu sức, đi lại khó khăn, hoạt động là thở gấp v.v... Đã điều trị ở địa phương không hiệu quả. Vào viện kiểm tra: thân nhiệt 37o C, mạch đập 72 lần/phút, mạch huyền, hoạt, lưỡi nhạt, rêu trắng bẩn. Huyết áp 104/62 mmHg, tĩnh mạch thành bụng nổi rõ, gõ đục dị ý (vì bụng có nước). Hai chân không bị phù nước rõ rệt. Xét nghiệm máu: bạch cầu 3700/mm3.

Xét nghiệm nước bụng: Rivalta (-). Kiểm tra chức năng gan: TTT 16 đơn vị, ZNTT 17 đơn vị, transaminate glutamic 216 đơn vị. Tổng Albumin 6,24g, albumin 1,98g, globulin 4,26g, tỉ lệ albumin glotamic đảo ngược. Xét nghiệm phân: trứng sán lá gan dương tính. Chẩn đoán là cổ chướng do bệnh sán lá gan giai đoạn muộn, đông y chẩn đoán là "Trướng độc" (dạng tì thấp sưng đầy). Cho uống 36 thang Gia giảm vị tinh thang, cổ chướng rút hết. Lại dùng 10 thang Lục quân tử thang củng cố về sau. Chức năng gan khôi phục bình thường, vòng sườn co còn 80 cm, vòng rốn 75cm. Các chứng khác tiêu hết. Theo dõi thấy không tái phát, bệnh khỏi cho ra viện.

Bàn luận:

Gia giảm vị linh hoàn và Hàm ba giáng phàn hoàn đã được sử dụng rộng rãi ở các cơ sở và các địa phương trong cả nước. Theo kinh nghiệm của tỉnh Hồ Nam dùng phổ biến bài thuốc này, hiệu quả đối với bệnh cổ chướng do bênh sán lá gan giai đoạn muốn đạt tới 93%. Qua theo dõi khám lại 1.291 trường hợp bệnh nhân đã được chữa khỏi báng bụng từ 2 đến 8 tháng, tỉ lệ tái phát chỉ chiếm 7,82%. Cách chữa này không những cải thiện sức khoẻ và phục hồi sức lao động cho người bệnh, mà còn tạo điều kiện cho 80% số người bệnh có thể tiếp nhận sự điều trị bằng antimoni. Những năm gần đây, đối với những bệnh nhân có biểu hiện tương đối phức tạp về mặt lâm sàng, nhận xét rằng phần lớn chủ yếu thuộc chứng "hư", do đó đa số trường hợp đều sử dụng đơn độc bài Gia giảm vị linh hoàn (hoặc thang), đồng thời ứng dụng lâm sàng bài thuốc Gia giảm vị linh hoàn chữa cổ chướng do viêm gan mạn tính, xơ gan cổ chướng, albumin huyết thấp gây ra, hoặc phù dinh dưỡng v.v... tùy từng trường hợp mà tăng thêm Đảng sâm, ý mễ, Khiếm thực v.v... thấy đều thu được hiệu quả mĩ mãn như nhau. Sau khi dùng thuốc có thể có tác dụng phụ như đau bụng nhẹ, lợm giọng, nôn oẹ, mót rặn, nhưng chỉ 1-3 ngày là hết dần. Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai và người thể chất hư.

Lưu ý khi dùng thuốc:

Tham khảo mua bán bài thuốc:

(Phần dành riêng cho đồng nghiệp giúp mua được bài thuốc đủ vị và chất lượng tốt)

Bài thuốc dân gian chữa XƠ GAN gồm các vị thuốc là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT, và được ngành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng theo chuẩn Dược điển Việt Nam.

Giá bán Bài thuốc dân gian chữa XƠ GAN (Tiêu chuẩn dược điển Việt Nam) tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn:

Giá bán bài thuốc trên (Tiêu chuẩn GACP-WHO) tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn: sẽ có giá cao hơn giá trên (liên hệ 18006834 để biết thêm chi tiết)

Cập nhật ngày 16/1/2017

Tùy theo thời điểm, giá bán có thể thay đổi.

Cách thức mua:

+Trước khi mua khách hàng nhất thiết phải có sự tư vấn của của các lương y, hoặc gọi 18006834 để được chúng tôi khám bệnh trước khi dùng thuốc

+Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám

+Mua trực tuyến: Thuốc được chuyển qua đường bưu điện, khi nhận được thuốc khách hàng mới phải thanh toán ( gọi 18006834 - Hỗ trợ phí vận chuyển khi mua từ 1,5 triệu vnđ trở lên).

+Tuỳ theo nhu cầu của khách hàng, Chúng tôi có thể bào chế bài thuốc này thành thuốc sắc sẵn vô trùng, thuốc hoàn tán, thuốc cô đặc...

 

  Thaythuoccuaban.com tổng hợp

****************************

Áp xe gan

Áp xe gan do vi khuẩn

Áp xe phổi

Bàng quang tiết niệu

Bệnh động mạch vành

Bệnh động mạch vành tim

Bệnh huyết sắc tố

Bệnh tim

Bệnh tim do phong thấp

Bướu cổ đơn thuần

Bướu cổ tuyến giáp

Cảm mạo

Cao huyết áp

Chức năng thần kinh tim

Co thắt cơ hoành

Cổ trướng do sán lá

Dạ

Đái dầm

Đái đường

Đái tháo nhạt

Đau dây thần kinh mặt

Đau sườn

Đau thắt động mạch vành

Dengue xuất huyết

Di chứng trúng phong

Đường ruột

Dương vật cương cứng dị thường

Gan hóa mỡ sau viêm gan

Gan nhiễm mỡ

Gầy đét do suy dinh dưỡng

Giãn phế quản khạc

Thiên gia diệu phương

Giãn phế quản máu nhiều

Hen phế quản

Hen phế quản kèm giãn phế nang

Hô hấp

Hôn mê gan mạn tính

Huyết áp thấp Hysteria

Ỉa chảy do tiêu hóa không tốt

Khí thũng phổi

Lao phổi ho ra máu

Lao phổi thâm nhiễm

Lao ruột

Liệt dương

Loét bờ cong nhỏ dạ dày

Loét dạ dày

Loét dạ dày hành tá tràng

Lỵ amíp

Lỵ amíp mạn tính

Lỵ trực khuẩn cấp

Lỵ trực khuẩn mạn tính

Lỵ trực khuẩn nhiễm độc

Mạch vành tim

Thiên gia diệu phương

Ngộ độc nấm

Nhiễm khuẩn cấp đường tiết niệu

Nhiễm khuẩn đường mật mạn tính

Nôn do thần kinh

Nốt thấp dưới da

Nuy não tủy Phát sốt

Phù do Protein thấp

Protein huyết thấp

Ra mồ hôi

Rối loạn chức năng ruột

Rối loạn chức năng thần kinh thực vật và ra nhiều mồ hôi

Rối loạn thần kinh thực vật

Rung tâm nhĩ

Sa dạ dày

Sa niêm mạc dạ dày

Sa thận

Sốt cao

Sốt nhẹ

Sốt nhẹ kéo dài

Sốt nhẹ mùa hè

Sốt nhiễm khuẩn

Sốt sau khi nhiễm nấm

Suy nhược thần kinh

Suy sinh dục

Suy tim phong thấp

Tắc ruột

Tắc ruột người già

Tâm thần phân liệt

Tăng huyết áp

Tăng lipid huyết

Táo bón

Thấp khớp

Thấp khớp cấp

Thống phong

Thổ tả

Tim đập nhanh

Túi mật

Ứ huyết phổi sau chấn thương

Viêm cầu thận

Viêm cầu thận cấp

Viêm cầu thận tăng urê huyết

Viêm bể thận mãn

Viêm cơ tim do phong thấp

Viêm dạ dày cấp

Viêm dạ dày mạn

Viêm dạ dày mạn tính và loét hành tá tràng

Viêm đa thần kinh - nuy

Viêm động mạch lớn

Viêm gan do ngộ độc thuốc

Viêm gan mạn

Viêm gan mạn không vàng da

Viêm gan mạn tấn công

Viêm gan mạn tồn tại

Viêm hang vị

Viêm họng tăng bạch cầu đơn nhân

Viêm loét đại tràng

Viêm màng não dịch tể

Viêm màng phổi tràn dịch

Viêm não

Viêm não B dịch tể

Viêm não do virus

Viêm phế quản cấp

Viêm phế quản mạn kèm phế khí thũng

Viêm phế quản phổi

Viêm ruột cấp

Viêm ruột giả mạc

Viêm ruột hoại tử

Viêm ruột mạn

Viêm teo niêm mạc dạ dày có sa niêm mạc dạ dày

Viêm túi mật cấp

Viêm túi mật khi mang thai

Viêm túi mật lên cơn cấp tính kèm sỏi mật

Viêm tụy

Viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp thể phù đơn thuần

Xơ gan

Xơ gan cổ trướng

Xơ gan do mỡ

Xơ gan giai đoạn sớm

Xơ gan tăng áp lực tĩnh mạch cửa


Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH