Tên thường gọi: Râu hùm còn gọi là Củ dòm(Ba Na), Phá lủa (Tày), Nưa, Cẩm địa la, Pinh đỏ (K’dong).
Tên khoa học: Tacca chantrieri André.
Họ khoa học: Thuộc họ Râu hùm - Taccaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Râu hùm, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...)
Hoa tháng 7-8, quả tháng 9-10.
Thân rễ - Rhizoma Taccae Chantrieri.
Loài phân bố ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Ðông dương. Ở nước ta, cây mọc hoang ở ven suối và rừng ẩm. Có thể thu hái thân rễ quanh năm, rửa sạch, phơi hay sấy khô.
Thân rễ chứa Saponin steroid, khi thủy phân cho diosgenin, taccaosid, b-sitosterol.
(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị...)
Thân rễ có vị cay đắng, tính mát.
Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết, tán ứ. Toàn cây có độc.
Thân rễ dùng ngoài chữa Thấp khớp.
Ở Trung Quốc, cây được dùng uống trị lao lực, viêm loét dạ dày và hành tá tràng, viêm gan, Huyết áp cao, đau dạ dày, bỏng lửa, lở ngứa.
Râu hùm 50g, giã nhỏ, ngâm rượu xoa bóp ngoài.
Kinh nghiệm dân gian dùng 50g thân rễ Râu hùm khô giã nhỏ, trộn với 30g Bồ kết nướng giòn, tán bột, ngâm vào 1/3 lít rượu trong 1 – 2
tuần. Dùng rượu này xoa bóp vào chỗ tê đau, ngày 2 – 3 lần.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH