Tên thường gọi: Nữ lang còn gọi là Sì to (Tên gọi địa phương của người Mèo ở Lào Cai).
Tên khoa học: Valeriana hardwickii Wall.
Họ khoa học: thuộc họ Nữ lang - Valerianaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Nữ lang, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...)
Cây thảo cao 1-1,5m, có thân nhẵn, có lông ở các mắt và có khi ở gốc, có rãnh ngoằn ngoèo. Lá ở gốc biến mất trước khi ra quả; lá ở thân kép lông chim có 3-5 lá chét, dài 1-6cm, rộng 0,5-3cm, không cuống, nguyên hay có răng, thót dài ở chóp, cái tận cùng lớn hơn. Hoa trắng thành xim dạng ngù ở ngọn rất rộng. Quả bế đẹp, dài 1,8-2mm, rộng 0,8-1mm, với một mặt lồi, có 3 cạnh dạng sợi, mặt kia ráp với một cạnh nhẵn; đài đồng trưởng, có răng phát triển thành 10 tơ dạng lông; dài 4-5mm, có râu nhỏ.
Hoa và quả tháng 10-2 (3), có khi gặp hoa vào tháng 5-7.
Thân rễ - Rhizoma Valerianae. Thân rễ dài 5cm, rộng 6-12mm, màu nâu, có vạch ngang và phủ những u lồi, dạng cung, có khi còn dính cả rễ con.
Loài của Ấn Độ, Inđônêxia, Trung Quốc. Cây thường mọc ở vùng núi cao, trên đá dựa suối ở Lào Cai (Sapa) và Lâm Đồng (Đà Lạt).
Trong thân rễ có tinh dầu; cũng có những nét giống với tinh dầu Hiệt thảo - Valeriana officinalis L. và các chế phẩm của cây này cũng có mùi thơm đặc trưng như Valerian. Ngoài ra cây Nữ lang còn có 5-10% chất vô cơ, rất nhiều gluxit (tinh bột, sacaroza) các axit hữu cơ (benzoic, salixylic, cafeic, clorogenic), một ít lipit, sterol, tanin…
An thần, giảm đau, chống co thắt: Tinh dầu và muối sinh vật trong nữ lang có tác dụng tăng cường quá trình ức chế vỏ đại não, giảm độ hưng phấn của phản xạ thần kinh, giãn cơ, giải trừ sự co thắt cơ trơn.
Đối với hệ tim mạch: Có tác dụng giãn rộng, tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, cải thiện tình trạng thiếu máu ở cơ tim, giảm mức tiêu hao ô-xy của cơ tim, chống rối loạn nhịp tim, hạ huyết áp.
Bảo vệ gan: Bảo vệ tế bào gan trong trường hợp bị tetrachoromethane làm tổn hại.
Kháng khuẩn, chống viêm: Có tác dụng ức chế, tiêu diệt một số loại vi khuẩn và vi-rút, mạnh nhất là đối với vi khuẩn gam-dương (Gram - positive bacterium); dùng chữa trị viêm ruột do Rotavirus đạt hiệu quả tốt.
(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị...)
Vị ngọt, cay, tính ấm, không độc;
Vào 2 kinh Tâm và Can.
Có tác dụng kích thích mạnh, lợi trung tiện, sát trùng.
Ở Ấn Độ, thường được dùng thay thế loài Hiệt thảo chữa: hystéria, động kinh, chứng múa giật, chứng loạn thần kinh chấn thương thời chiến, chứng loạn thần kinh chức năng.
(Hiệt thảo - Valeriana offcinalis L., có tác dụng dưỡng tâm an thần, hoạt huyết thông kinh, lý khí chỉ thống.)
Người ta cũng dùng làm hương liệu.
10-15g cây nữ lang (Cây và rễ) sắc nước uống hàng ngày
Rễ cây nữ lang sao khô tán thành dạng bột mịn, chiêu nước uống ngày 2 lần mỗi lần 4g.
10-15g cây nữ lang khô, 20g cây dong riềng đỏ khô sắc nước uống hàng ngày.
Dùng sì to 100g, ngâm trong 1 lít rượu trắng ít nhất 1 tuần, sau đó chiết rượu ra, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-15ml (khoảng 2-3 thìa cà phê). Hoặc dùng 6-12g sì to sắc nước uống thay nước trong ngày. Hoặc dùng sì to 6g, ngũ vị tử 8g; sắc nước uống trong ngày.
Dùng cành lá sì to 15g tươi, gừng tươi 3g; sắc nước uống.
Dùng rễ củ sì to, rễ xương bồ - mỗi thứ 6-12g; sắc lấy nước, pha thêm chút rượu trắng vào, chia 3-4 lần uống trong ngày.
Sì to sấy khô, tán mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 3-4g bột thuốc, chiêu bằng nước đun sôi.
Dùng rễ củ sì to 15g, sa nhân 10g, trần bì 15g, bạch truật 15g; sắc nước uống trong ngày.
Trong một số tài liệu về y học dân gian chúng tôi có trong tay, có thấy đề cập tới việc sử dụng sì to chữa dương nuy (liệt dương).
Tại Việt Nam, thường gặp hai loài Sì to - Nữ lang, được sử dụng với cùng công dụng: "Sì to lá hình tim" và "Sì to lá kép".
Sì to lá tim: Còn gọi là "Nữ lang nhện", "tri thù hương", "liên hương thảo", ... tên khoa học là Valeriana jatamansi Jones, thuộc họ Nữ lang (Valerianaceae). Là loài cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng 25-30cm. Rễ mập, có những khoanh tròn đỏ do vết tích của cuống lá, có nhiều rễ con. Lá mọc từ gốc, phiến lá hình tim, hai mặt có lông mịn; cuống lá dài 20-25cm, cũng có lông mịn. Cụm hoa hình xim ngù, cuống dài 30-40cm. Hoa nhỏ màu trắng, quả bế, dẹt.
Sì to lá kép: Còn gọi là "Tây Nam hiệt thảo", "Trường tự hiệt thảo", ... tên khoa học là Valeriana hardwickii Wall, cùng họ Nữ lang (Valerianaceae). Cũng là cây thảo, nhưng cao hơn, từ 1-1,5m, thân nhẵn, có lông ở đốt và đôi khi cả phía dưới gốc. Lá ở gốc thường héo rụng trước khi cây ra quả, lá trên thân thường kép lông chim với 3-5 lá chét, nguyên hay khía răng, không cuống, lá chét ở đỉnh lớn hơn cả. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành xim dạng ngù, quả bế dẹt. Hoa quả từ tháng 10 đến tháng 2. Thân rễ dài khoảng 5cm, đường kính 6-12mm, nâu, với những rãnh ngang, và những bướu nổi ở quanh, đôi khi có những rễ con mọc lên, vết bẻ nâu lục nhạt.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH