Tên thường dùng: ngái
Tên tiếng Trung: 榕树,小叶榕、万年青、细叶榕
Tên khoa học: Ficus hispida L. f
Họ khoa học: thuộc họ Dâu tằm - Moraceae
( Mô tả, hình ảnh cây ngái, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....)
Có hoa từ tháng 1-4.
Rễ, lá, vỏ và quả - Radix, Folium, Cortex et Fructus Fici Hispidae.
Cây của miền Đông Dương và miền Malaixia, châu Đại dương, mọc hoang ở khắp nơi. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Rửa rễ, phơi khô, lột bỏ lớp vỏ ngoài, dùng lớp thứ hai. Nhặt bỏ lông trên lá rồi sấy khô.
Lupeylacetate,friedlin, epifriedelinol, glutinol, taraxerol,oleanolicacid, hợp chất béo và steroid
Tác dụng kháng khuẩn
01:50 nồng lá đa và vỏ cây, trong ống nghiệm đối với Staphylococcus aureus, ức chế vi khuẩn Shigella . Ficus benjamina cùng lá cây thuốc sắc, kìm khuẩn hiệu quả phương pháp pha loãng như sau: 01:20 Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus 1:80 Freund lỵ que 1:80 . 01:20 Proteus 1: 160,
Lá: đắng, sáp, mát
Rễ : hơi đắng, sáp, mát
Có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp, tiêu tích hoá đàm.
Ở Ấn Độ, quả, hạt và vỏ được xem như có tác dụng xổ, gây nôn.
Liều dùng: 15-30g, dạng thuốc sắc. Giã cây tươi đắp ngoài hay nấu nước rửa.
Thường dùng chữa:
1. Cảm mạo, viêm nhánh phế quản;
2. Tiêu hoá kém, lỵ;
3. Phong thấp, đau nhức khớp, đòn ngã tổn thương;
4. Cụm nhọt ở nách, đinh râu.
Ở Malaixia, nước sắc lá dùng uống trị sốt rét và dùng cho phụ nữ sau khi sinh uống. Nước sắc vỏ dùng trị sốt cho trẻ em. Vỏ dùng làm thuốc gây nôn. Quả chín dùng ăn có tính lợi sữa.
Ở Java và Trung Quốc, người ta cũng dùng quả làm mứt. Quả đốt thành than ngâm nước hay rượu chữa Đau răng. Rễ sao vàng sắc uống điều kinh. Quả ăn sống gây ngộ độc.
Đơn thuốc:
1. Cụm nhọt: Giã lá và quả tươi và đắp vào chỗ đau.
2. Đinh râu: Búp Ngái lẫn với hạt Cau giã đắp.
3. Đau mắt: Nhựa Ngái phết vào giấy mỏng (cắt tròn thành đồng xu) dán vào đuôi con mắt 1-2 ngày.
Theo kinh nghiệm dân gian, tất cả các bộ phận của cây ngái đều có tác dụng chữa bệnh.
Lá: Lá ngái được thu hái quanh năm, loại bỏ lá sâu, lá úa, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, gạn uống chữa sốt rét. Để phòng sốt rét, có thể lấy lá sao vàng, nấu nước uống hằng ngày (Nam dược thần hiệu). Búp non lá ngái giã nát với hạt cau (liều lượng bằng nhau) dùng đắp chữa đinh râu.
Vỏ thân, thu hái vào mùa xuân, lúc này vỏ chứa nhiều nhựa dễ bóc, cạo sạch vỏ ngoài, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, lấy vỏ thân ngái 50g, ngâm nước vo gạo trong 2 giờ, rồi lấy ra, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng; lá sung 30g, mã đề 30g, phơi khô, cắt nhỏ, bồ hóng 1 nhúm. Tất cả trộn đều, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa phù thũng. Để chữa tiêu chảy do bị ngộ độc, lấy vỏ thân ngái 30g, rễ cây xương rắn 20g, rễ màng tang 20g. Tất cả phơi khô, cắt nhỏ, sao vàng, sắc uống ngày 1 thang.
Rễ, thu hái vào mùa thu, chỉ lấy vỏ rễ, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Chữa đau lưng, nhức xương: rễ ngái 50g, rễ cỏ xước 30g, dây đau xương 30g, rễ si 30g, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống. Chữa thấp nhiệt, tiểu tiện không thông: Rễ ngái 50g, thổ phục linh 50g, rễ cối xay 30g, rễ cỏ xước 20g, mã đề 20g. Sắc uống. Quả, quả ngái đốt thành than, ngâm rượu, dùng ngậm hằng ngày, sâu răng. Ngoài ra, tầm gửi cây ngái sắc uống chữa kiết lỵ ra máu, phối hợp với lá bưởi bung, phơi khô, sao vàng, sắc uống, chữa sốt rét
Tag: cay ngai, vi thuoc ngai, cong dung ngai, Hinh anh cay ngai, Tac dung ngai, Thuoc nam
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH