Tên thường gọi: Nấm cựa gà còn gọi là Nấm cựa tím, Nấm khoả mạch.
Tên khoa học: Claviceps purpurea (Fr.) Tul.
Họ khoa học: Thuộc họ Nấm cựa gà - Clavicepitaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Nấm cựa gà, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...).
Nấm gây bệnh lúa mạch đen; sợi đâm sâu vào bông lúa mạch non, phá huỷ tế bào của mô cây chủ và phủ ngoài cụm hoa bằng một lớp sợi nấm mềm, màu trắng như bông. Từ đây tạo nên thể gối, trên đó hình thành cuống cônidi (bào tử bụi) và hình thành cônidi. Nấm còn tiết ra chất mật để hấp dẫn côn trùng đến và thông qua sự thăm viếng này, mà bào tử được phát tán đi xa. Tiếp sau đó, khối sợi nấm tiếp tục phát triển và hình thành nên hạch nấm cứng nom giống cựa gà dài 1-4cm, hơi hình trụ, màu tím đen, (ít khi xám úa nâu). Chúng có khả năng chống chịu qua mùa đông ở trong đất. Đầu năm sau, hạch nấm nảy mầm và hình thành nhiều nang quả đậm màu tím tối, dài 9cm, ngang 3,5cm với cuống dai và đầu hình cầu.
Hạch nấm – Claviceps, có tên là Mạch giác khuẩn.
Nấm cựa gà có thể gặp trên các vùng cao có trồng lúa mạch của nước ta. Người ta thu hái khi nấm bắt đầu chín. Phơi khô ở 30-45o.
Hạch nấm là 1 khối nhỏ dài 2-3 cm, d = 3-4 mm, hai đầu thuôn, mình hơi cong, mặt ngoài đen tím, có khía dọc và đôi khi nứt ngang, càng để lâu càng khó ngửi, vị buồn nôn và vị đắng.
Hàm lượng alcaloid trong hạch nấm phụ thuộc vào nguồn gốc và sinh thái. Đối với loại mọc hoang tỷ lệ alcaloid khoảng 0-1%, đa số là dưới 0,2%, loại trồng đạt trên 1 % và người ta đã tạo ra 1 số alcaloid cần thiết nhất định.
Ngoài alcaloid còn có: Các amin: gồm aminoalcol như cholin, acetylcholin;các acid amin như a.asparatic, glycin, arginin, valin, leucin, tyramin, histamin... Những chất màu: Chất có màu đỏ clavorubrin, endocrocin..., những chất màu vàng ergoflavin, clavoxanthin. Những sắc tố màu vàng đều có tính khán khuẩn. Sterol: ergosterol, fungisterin, squalen, stigmasterin. Chất béo (khoảng 30%) là glycerid của các acid béo chưa no như a.oleic, linoleic, ricinoleic. Glucid: glucose, trehalose, clavicepsin. Nước khoảng 8 %.
Trong hạch nấm có ergotasine, ergotamine, ergocornine là những hoạt chất rất mạnh mà với liều lượng thường dùng làm co mạch các cơ trơn và cơ tử cung.
Kích thích sự co thắt của các cơ trơn: mạch máu, phế quản, trực tràng, bàng quang, nhất là tử cung. Tác dụng kích thích này không những đối với tử cung bình thường mà còn rất mạnh đối với tử cung có thai. Do vậy trước đây có dùng để thúc đẩy đẻ nhanh nhưng vì gây co cứng cơ tử cung quá kéo dài nên nhiều khi lại gây đẻ khó. Hiện nay, trong sản khoa chỉ dùng để cầm máu sau khi đẻ.
Co mạch mạnh, do đó dùng để cầm máu và giảm viêm, tăng huyết áp và ổn định nhịp tim.
Với liều cao, Nấm cựa gà rất độc, có thể gây nên hoại thư ở đầu ngón tay chân, cơ cứng mạch, mê sảng.
(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị...)
Vị ngọt sau đổi thành chua, mùi hôi
Tác dụng vào tử cung. Nấm được dùng để trị những bệnh về tai (phía trong tai), mắt (giác mạc), môi, mũi và lưỡi. Nấm cũng còn dùng để ngừa choáng say, chóng mặt khi di-chuyển.
Do tác dụng mạnh, nên ở nước ngoài, Nấm cựa gà chỉ được chỉ định dùng theo ý kiến của thầy thuốc, thường được dùng trong khoa sản.
Cầm máu khi băng huyết, ho ra máu,nôn ra máu, chảy máu ruột trong bệnh thương hàn, đái ra máu, chảy máu cam, trĩ chảy máu.
Có tác dụng làm tan máu trong bệnh sung huyết phổi, sung huyết não…
Có khi dùng trợ tim trong viêm cơ tim do nhiễm khuẩn, viêm quầng (erysipele).
Dịch chiết cựa khoả mạch tác dụng không ổn định vì hàm lượng hoạt chất dễ thay đổi nên ngày nay người ta thường dùng dạng alcaloid tinh khiết. Trong các alcaloid thì ergobasin và ergotamin có giá trị lớn trong điều trị.
Đây là một loại nấm có độc tính cao, không được dùng nơi phụ nữ có thai.
Cơ-chế độc tính của nấm mạch giác: Do tác dụng ngăn chặn alpha-adrenergic và đối kháng với 5-HT (serotonin), nấm kích thích các cơ vòng trơn và các nơi tiếp giáp thần kinh (synapse) hậu-hạch của các sợi thần kinh giao-cảm nơi tử-cung, bàng-quang, tim, mạch máu và đồng tử. Liều cao gây ra sự co-giật loại tetanic.
Cấp tính: Nhức đầu, buồn nôn và ói mửa; khát nước nhiều; ngứa, tiêu chảy; choáng váng; mạch nhanh, nở đồng tử mắt, ngộp hơi, sưng phù người, nhiệt độ tăng, bắp thịt giựt, bí tiểu, sưng mặt, lẫn lộn,..có thể mê sảng và chết vì trụy tim-thở.
Kinh niên loại 1: Hoại thư: Tê bại, nổi quầng đỏ nơi tay, chân; có khi tím /tái; đồng tử mắt nở to; đau.. Đầu ngón tay, chân có những nốt lở chảy nước màu máu xậm đưa đến hoại thư.
Kinh niên loại 2: Co-giật: Rung cơ, co giật từng cơn, cảm giác đói, cơ thể suy yếu, ù tai, tê bại, sợ ánh sáng, nhức đầu dữ-dội; trầm cảm, ói mửa và tiêu chảy, co giật động mạch thận và có thể chết..
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH