Na leo

Tên khác

Tên thường gọi: Na leo, Dây răng ngựa, Xưn xe tạp; Xưn xe roxburgh; Nắm cơm; Hải phong đằng, Dây chua cùm, đại toản, pằn mạ (Tày), na leo.

Tên tiếng Trung: 黑老虎

Tên khoa học: Kadsura heteroclita (Roxb.) Craib

Họ khoa học: thuộc họ Ngũ vị - Schisandraceae.

Cây na leo

(Mô tả, hình ảnh cây na leo, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý)

Mô tả:

Cây na leo là một cây thuốc quý. Cây leo có cành nhẵn. Lá nhẵn, có phiến hình bầu dục, gốc thon có mỏ ở đầu, mặt trên lục đậm, mặt dưới nhạt hơn và có nhiều chấm trắng nhỏ. Hoa khác gốc mọc đơn độc ở nách lá; lá bắc dễ rụng. Bao hoa gồm nhiều bản hình thuôn hay hình trứng, lớp ngoài bé hơn nhiều. Hoa đực có nhị hợp thành hình cầu, chỉ nhị rất ngắn hay không có. Hoa cái có những lá noãn hình cầu xếp rất rất sít nhau, vòi rất ngắn.

Có quả tháng 12, tháng 1.

Bộ phận dùng:

Dây, rễ và lá - Caulis, Radix et Folium Kadsurae Roxburghianae.

Nơi sống và thu hái:

Chi Kadsura Jass. gồm các loài là dây leo quấn hay dạng bụi trườn, phân bố ở vùng nhiệt đới hay á nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam, có 4 loài. Loài na rừng phân bố rải rác ở vùng núi từ 600m đến 1500m, ở các tỉnh Lào Cai( Sapa), Hà Tây (núi Ba Vì), Cao Bằng, Lạng Sơn... Ở phía nam mới thấy ở Lâm Đổng (Bảo Lộc). Trên thế giới, cây phân bố ở một số khu vực núi cao trong vùng có khí hậu nhiệt đới hay á nhiệt đới của Ấn Độ (cận Hymalaia, Assam, Tây Malala) Lào và Nam Trung Quốc. Na rừng thuộc loài cây leo quấn, thường xanh, ưa khí hậu ẩm mát đặc biệt ở vùng nhiệt đới núi cao, nhiệt độ không khí trung bình từ 18 - 22°c. Cây ưa sáng hơi chịu bóng, thường mọc ở ven rừng hay rừng núi đá vôi. Cây ra hoa quả hàng năm nhưng số lượng quả trên cây không nhiều. Quả chín thường bị chùn, sóc ăn rồi theo phân của chúng hạt phân tán khắp nơi. Sau khi cây bị chặt, phần còn lại tái sinh khỏe, ớ vùng rừng Vườn quốc gia Tam Đảo có một khóm na rừng, mọc gần đường đi nên hay bị chặt phá, số cành non nhiều (ước tính duới 1 năm tuổi) nên không thây có hoa quả. Na rừng có thể xếp vào nhóm những cây thuốc tương đối hiếm gặp ở Việt Nam, cần chú ý bảo vệ.

Cây thường mọc ở rừng ven suối các tỉnh Hoà Bình, Bắc Thái, Ninh Bình và nhiều nơi ở miền Trung của nước ta.

Thành phần hóa học

Thành phần hoá học của Na rừng khá phức tạp, , trong đó đã nhận biết được 36 hợp chất đạt 97,23%. Các số liệu ở bảng 1 cho thấy, thành phần hoá học của tinh dầu Na rừng (Tràng Định, Lạng Sơn) có các chất chính là: β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)… 

- Hàm lượng tinh dầu trong rễ cây Na rừng thu tại Tràng Định, Lạng Sơn là 0,18% đối với rễ tươi và 0,26% đối với mẫu khô tuyệt đối. - Bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC/MS) đã định tính và định lượng được 36/43 hợp chất của tinh dầu trong rễ cây Na rừng, đạt 97,23%. - Thành phần hoá học của tinh dầu trong rễ cây Na rừng (Lạng Sơn) có thành phần chính là β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)… 

Tác dụng dược lý

Từ dịch chiết bằng dichlorethan của thân dây na rừng qua chiết tách bằng sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột, được các thành phần III và IV có tác đụng ức chế hoạt tính nhân tố hoạt hóa tiểu cầu.

Vị thuốc na leo, na rừng

(Tính vị, quy kinh, công dụng, liều dùng)

Tính vị

Thân dây na rừng có vị đắng cay, tính ôn, có tác dụng khư phong, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.

Quả na rừng có vị cay, tính hơi ôn, có tác dụng ninh tâm, bổ thận, chỉ khái, khư đàm.

Quy kinh

Vào kinh vị, kinh đại trường

Công dụng:

Dân gian dùng dây và rễ chữa cam sài trẻ em, làm cho ăn ngon, lành mạnh gân cốt và cũng dùng chữa động kinh, tê thấp. Dây lá có thể sắc uống trị Kiết lỵ. Lá giã với muối đắp chữa mụn bắp chuối

Liều dùng

Rễ dùng 5-30g dạng sắc uống

Tác dụng chữa bệnh của vị thuốc na leo

Theo kinh nghiệm dân gian, na rừng được làm thuốc bổ, hoạt huyết, giảm đau, kích thích tiêu hóa.

Ngày dùng 8 – 16 g, vỏ rễ hay vỏ thân tán nhỏ, ngâm rượu uống, chia làm 2 lần trong ngày. Quả khi chín ăn được. Hạt na rừng đôi khi được dùng thay thế ngũ vị tử bắc.

Ở trung quốc, thân và rễ cây na rừng được dùng chữa phong thấp tê đau, viêm loét dạ dày – tá tràng, đau bụng kinh, đau bụng sau khi dẻ. Quả na rừng chữa thận hư đau lung, ho, viêm họng, viêm phế quản, thần kinh suy nhược.

Dùng hàng ngày 6 – 9 g sắc nước uống.

Chữa đau bụng kinh

Rễ na rừng, oai diệp tử lan, hồ tiêu, các vị lượng vừa đủ, ngâm rượu uống chữa đau bụng  kinh

Tham khảo

Tìm hiểu thêm

Khi hãm nước riêng vị Na rừng có vị đài hơi chát ,tính ôn không độc dùng làm thuốc chữa các bệnh Phong tê thấp người suy nhược, đau dạ dầy hành tá tràng, đại tràng ngoại thương xuất huyết, thân rễ ngâm rượi đánh gió xoa bóp vào chỗ đau nhức mỏi.

Có thể dùng na rừng như một vị thuốc hành khí tiêu viêm chỉ thống, chữa đau dạ dầy tá tràng .. giúp người ăn uống kém .

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Tham khảo ý kiến thầy thuốc

Thần dược cho người đột quỵ

Thực phẩm cho người tiểu đường

DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC

Vị thuốc vần A

Vị thuốc vần B

Vị thuốc vần C

Vị thuốc vần D

Vị thuốc vần E

Vị thuốc vần G

Vị thuốc vần H

Vị thuốc vần I

Vị thuốc vần K

Vị thuốc vần L

Vị thuốc vần M

 

 

Vị thuốc vần N

Vị thuốc vần O

Vị thuốc vần P

Vị thuốc vần Q

Vị thuốc vần R

Vị thuốc vần S

Vị thuốc vần T

Vị thuốc vần U

Vị thuốc vần V

Vị thuốc vần X

Vị thuốc vần Y

 

Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.

. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH