Tên thường gọi: Mò đỏ, Bấn đỏ, Vây đỏ, Ngọc nữ đỏ, Xích đồng nam, lẹo cái, người Thái gọi là co púng pính
Tên khoa học: Clerodendrum paniculatum L.
Họ khoa học: thuộc họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây mò đỏ, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...)
Mùa hoa quả tháng 5-11.
Rễ và lá - Radix et Folium Clerodendri Paniculati.
Toàn thân.Thu hái quanh năm, tốt nhất vào lúc cây sắp có hoa. Phơi hoặc sấy khô. Có khi dùng tươi.
Loài của Ấn Ðộ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc hoang ở ven đường và triền núi, từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Ðà Nẵng, Kontum, Ðắc Lắc cho tới An Giang. Thu hái rễ vào mùa hè, thu hái lá lúc cây sắp có hoa đem phơi khô.
Toàn cây chứa Alcaloid, Flavonoid, muối calci.
Ứng dụng tốt trong điều trị u xơ tiền liệt tuyến
(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh...)
+ Vị đắng nhạt, tính mát (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị hơi đắng, mùi hôi, tính mát (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Thanh nhiệt, lương huyết, tiêu độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Thanh nhiệt, giải độc, khu phong, trừ thấp, tiêu viêm (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Trị bạch đới, tử cung viêm loét, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt lở ngứa, mật viêm vàng da, gân xương đau nhức, mỏi lưng, huyết áp cao (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Ngày dùng 10-20g dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Mò trắng, Mò đỏ lấy cả hoa, lá mỗi thứ một nắm 15g phơi héo, Bồ công anh 12g, Rau dừa nước 15g, sắc uống.
Mò đỏ, Mò trắng, Cỏ chỉ thiên, rễ Cỏ tranh, Cỏ bấc, thịt Ốc nhồi, mỗi thứ một nắm, sắc uống
Lá mò hoa đỏ, hương phụ, ích mẫu, ngải cứu, mỗi vị 6g; nước 700ml, sắc trong nửa giờ, chia 2 - 3 lần uống trong ngày, khi uống có thể cho thêm ít đường cho dễ uống. Uống trước khi có kinh khoảng 10 ngày, sau đó có thể uống liền từ 2 - 3 tháng, có tác dụng lưu thông khí huyết và giảm đau.
Mò hoa đỏ 80g, dây gắm 120g; đơn tướng quân, đơn mặt trời, đơn răng cưa, cà gai leo, cành dâu, cây tầm xuân, mỗi vị 8g. Cho 700ml nước, sắc trong nửa giờ, chia 2 - 3 lần uống trong ngày, dùng liền 1 tuần.
Mò hoa đỏ, hương phụ, ngải cứu, ích mẫu, mỗi vị 10 - 12g (khô). Cho 700ml nước, sắc trong nửa giờ, chia 2 - 3 lần uống trong ngày, khi uống có thể cho thêm ít đường cho dễ uống. Uống sau khi sạch kinh khoảng 5 - 7 ngày. Uống liền 2 - 3 tuần lễ.
Mò hoa đỏ (sao vàng) 40g, thanh bì 20g, bạch đồng nữ (sao vàng) 40g, dái nghệ vàng 20g, quả dành dành (sao cháy) 20g, cam thảo dây 16g. Các vị sao chế xong, cho vào ấm, đổ 800ml nước, sắc lấy 250ml uống. Uống 10 ngày là một liệu trình.
Mò hoa đỏ, bạch đồng nữ, cỏ chỉ thiên, rễ tranh, cỏ bấc, mỗi thứ khoảng 16 - 20g. Sắc với 1 lít nước, còn lại 350ml, chia 2 lần uống lúc đói. Uống 5 - 7 ngày.
Mò hoa đỏ, ích mẫu, ngải cứu, hương phụ, trần bì, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 - 3 tuần sau chu kỳ kinh nguyệt. Dùng nhắc lại liệu trình thứ hai vào sau kỳ kinh tháng sau.
Rễ xích đồng nam, búp non Mía dò, lá Huyết dụ, mã đề, Bầu đất mỗi thứ 10-15g, thái nhỏ, phơi khô, sao cho thơm sắc vwosi 500 ml nước, còn 150 ml chia uống 2 lần trong ngày.
Xích đồng nam, hương phụ, ngải cứu, ích mẫu, mỗi vị 10 – 12g (khô). Sắc uống, ngày 1 thang, khi uống có thể cho thêm ít đường cho dễ uống. Uống sau khi hết kinh độ 5-7 ngày. Uống liền 2-3 tuần lễ.
Rễ bạch đồng nữ hoặc xích đồng nam, sắc uống mỗi ngày một thang.
40-80g lá Xích đồng nam khô sắc uống, hoặc Xích đồng nam 18g, Ích mẫu 18g, Ngải diệp 18g, Hương phụ 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Lá Xích đồng nam khô 12g, Cúc hoa 12g, Hoa hòe 6g, Cam thảo nam 12g. Tất cả phơi khô, sao qua cho thơm. Sắc uống mỗi ngày một thang.
Xích đồng nam 80g, Dây gắm 120g, cây Tâm xuân 8g, Đơn tướng quân 8g, Đơn mặt trời 8g, Đơn răng cưa 8g, Cà gai leo 8g, Cành dâu 8g. Sắc, chia 2 lần uống, mỗi ngày một thang.
Chữa kinh nguyệt không đều, viêm loét tử cung, bệnh phụ nữ, mụn nhọt, viêm mật vàng da, huyết áp cao. Ngày 15 – 20g toàn cây dưới dạng thuốc sắc, cao, viên.
Dùng lá cây mía tím 30g, lá huyết dụ 20g, bạch đồng nữ 12g, xích đồng nam 12g, tất cả đem thái nhỏ, sao vàng, sắc nước uống thay trà hằng ngày.
Mò đỏ, bạch đồng nữ lấy cả hoa, lá mỗi thứ một nắm 15g phơi héo, bồ công anh 12g, rau dừa nước 15g, sắc uống.
Mò đỏ, bạch đồng nữ, cỏ chỉ thiên, rễ cỏ tranh, cỏ bấc, thịt ốc nhồi, mỗi thứ một nắm, sắc uống.
Mò đỏ (sao vàng) 40g, thanh bì 20g, bạch đồng nữ (sao vàng) 40g, dái nghệ vàng 20g, quả dành dành (sao cháy) 20g, cam thảo dây 16g. Các vị sao chế xong, cho vào ấm, đổ 800ml nước, sắc lấy 250ml uống.
Cây bạch đồng nữ, cây Mò, Xích đồng nam (Clerodendron infotunatum Linn) cùng chi, rất giống với cây trên, chỉ khác là màu xanh sẩm hơn, phiến lá xoắn hơn, mặt trên lá bóng hơn, hoa màu đỏ tươi. Việc xác định tên khoa học của cây trên chưa được thống nhất, có tác giả gọi cả hai cây trên cùng 1 tên là: Clerodendron squamatum Vahi. Cüng có người dùng hai cây trên với công dụng như nhau.
Ngoài hai cây trên, nhân dân còn dùng lá và rễ của cây Clerodendron fragans Vent., gọi là cây Mò trắng, Mò mâm xôi, cây Bấn trắng, cùng họ để trị bệnh bạch đới, khí hư như hai cây trên, ngoài ra còn trị viêm khớp do phong thấp, lưng đau, đùi đau, bị liệt, chân phù. Dùng rễ khô từ 4~8g sắc uống. Trong trường hợp tiêu ra máu, trực trường sa, sắc nước xông, rửa. Huyết áp cao dùng lá khô 40 đến 80g sắc uống (Danh Từ Dược Vị Đông Y).
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH