Tên thường gọi: Mao lương, Mao lương độc, Mao cấn độc, Thạch long nhuế,
Tên tiếng Trung: 石龙芮
Tên khoa học: Ranunculus sceleratus L.
Họ khoa học: thuộc họ Hoàng liên - Ranunculaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây mao lương, phân bố, thu hái, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...)
Ra hoa tháng 2-6.
Toàn cây - Herba Ranunculi, ở Trung Quốc gọi là Thạch long nhuế.
Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Ðộ, Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây thường mọc trên đất khô dần, phát tán theo dòng nước sông, mọc ở Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Nội, Nam Hà, Hải Phòng.
Thu hái cây vào mùa hè rửa sạch phơi khô.
Cây chứa anemonin và 2,50% protoanemonin ngay sau khi cây nở rộ. Ở cây tươi có chất rất kích thích là anemonol nhưng khi phơi khô sẽ biến thành một chất kém hoạt động hơn là anenonin.
Lá tươi chứa protoanemonin, nó có thể gây viêm da, phổng da.
Khi uống có thể gây viêm dạ dày ruột và triệu chứng của nhiễm độc nặng, nhưng hiếm khi gây tử vong vì hương vị cay rất mạnh mẽ của họ, nói chung sẽ không ăn nhiều. Sự xuất hiện thành phần kích thích được protoanemonin sau khi trùng hợp có thể trở nên không kích thích hiệu quả Anemonin.
Tác dụng kháng khuẩn: Kháng khuẩn: protoanemonin chống lại vi khuẩn Gram âm và dương và nấm có một sự ức chế tốt, chẳng hạn như liên cầu (1: 60.000), Escherichia coli (1: 83.000-33.000), Candida albicans (1: 100.000) là ức chế.
Tác dụng chống histamine: thử nghiệm trên lợn
(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh)
Vị đắng, tính bình, có độc. Cây có tác dụng tiêu phù, tiêu viêm, trừ sốt rét, điều kinh, lợi sữa.
Trị nhọt độc, lao tràng nhạc, sốt rét, viêm loét chân, thấp khớp
Chỉ dùng ngoài, giã cây tươi hoặc chế thành thuốc bôi dẻo đắp, nếu thấy chỗ đắp bị sưng thì tháo thuốc đắp ra.
Ở ẤnÐộ được dùng đắp vào da để làm phồng da.
Hạt có thể dùng giã nhỏ đắp lên mụn nhọt chưa vỡ mủ hay những chỗ sưng tấy, áp xe. Còn được dùng làm thuốc dễ tiêu, làm dịu hơi thở và chữa bệnh về thận.
Dưới dạng thuốc sắc uống: dạng khô dùng 3-9g.
Giảm liều lượng khi dùng kết hợp với một số loại thuốc khác
Giã cây tươi đắp.
Rửa cây tươi và giã lấy dịch bôi.
Nuốt phải có thể gây ra cháy miệng, tiếp theo là sưng, khó nhai, tiêu chảy nặng, mạch chậm, khó thở, giãn đồng tử, trường hợp nặng có thể gây tử vong.
Nếu bị trúng độc cần rửa dạ dày 0,2% dung dịch kali permanganat, phục vụ lòng trắng trứng và than củi, truyền tĩnh mạch dung dịch nước muối đường, khi atropine đau bụng và điều trị triệu chứng khác. Da và màng nhầy lạm dụng hoặc thừa nước có sẵn, sấy khô, axit boric hoặc dung dịch axit tannic.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH