Tên thường gọi: Lúa mì còn gọi là Lúa miến.
Tên khoa học: Triticum aestivum L. (T. satiuum Lam.)
Họ khoa học: thuộc họ Lúa - Poaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Lúa mì, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...).
Cây thảo sống hằng năm, rễ hình sợi. Thân cao 0,8-1,5m, thẳng đứng, nhẵn, mọc thành cụm thưa. Lá phẳng, hình mũi mác hay hình dải rộng, nhọn đầu, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ ngắn, nhụt. Cụm hoa là bông dày đặc, các bông nhỏ đơn độc, xếp lợp trên cả hai mặt đối diện của cuống chung, mang 3-5 hoa (thường là 4) mà hoa ở đỉnh không sinh sản. Mày hình bầu dục rộng; mày hoa không đều nhau. Quả hình bầu dục hay thuôn có lông ở đỉnh.
Hạt - Semen Tritici.
Cây gây trồng ở miền núi để lấy hạt làm lương thực, làm bánh; thân lá dùng để nuôi súc vật hoặc để bện mũ, nón.
Trong 1kg hạt có 0,03mg Al2O3. Hạt còn chứa Mg, Mn, Zn, Fe, Cu. Cây tưới chứa 0,02% acid oxalic.
Các chất khoáng: Ca, Mg, p, Fe, Na, K, Zn, V, Cu, s, Cl, Si, Be, Cd, Cr, Mn. Mo, Ni, Sr, T, Co và phytin - phospho các enzym: a - amylase, proteinase, peptidase, asparagin - synthetase, cytindin - deaminase, oxidase, lipoxidase, CO - enzym, acid glutamic decarboxylase (CA. 1976, 85, 37259.x).
Các vitamin: caroten, thiamin, riboflavin, acid nicotinic, cholin, tocophenol, xanthophyl (lutein). Các carbohydrat như tinh bột, cellulosa, hemicellulosa, levosin, sorleosa (CA, 1976, 85, 23392v).
Các protein như cytochrom c (một loại haemoprotein) các acid amin như: arginin, histidin, isoleucin, leucinlysin, methionin, phenylalanin, valin, threonin, tryptophan, adenin tyamin, cholin, betain.
Các chất màu: carotenoid. p - caroten (CA 1977,86, 111187m). Một lượng nhỏ flavonoid như: flavonoid A,B, tricin (5, 7, 4 - trihydroxy - 3, 5 - dimethyiflavon, rhodiolosid ranunculin, luteolin - c - glucosid (CA, 1964, 61, 218211), polysaccharid và phytosterol (CA, 1965, 63, 6016h) [Nayudamma Y et al., 1976, The wealth of India, vol. 10, p.360]; [Giang Tô tân y học viện 1975, Trung dược đại từ điển quyện I, tr. 422, 423, 448, 2284 quyển II, tr.2251, 2257, 2327, 1012, 1117, 1483, quyển IIl.tr. 1246, 1477, 1481].
(Tính vị, quy kinh, công dụng, liều dùng)
Vị ngọt, tính mát; có tác dụng làm mát, bổ, làm béo, tạo cảm giác ngon miệng.
Dùng chữa ỉa chảy đi tiêu lỏng; rang lên sắc uống thì giải khát khỏi phiền nhiệt. Thường dùng trong các trường hợp rối loạn chung về sức khoẻ.
Bột mì rang cháy uống với nước cơm, hay với nước chè, liều lượng không hạn chế.
Chữa trẻ em ỉa chảy kéo dài hay người tỳ hư đi tiêu lỏng, dùng bột Mì nấu cháo hay làm bánh cho ăn.
Hạt lúa mì, ý dĩ, đều sao, sắc uống thay nước, hoặc tán bột, cho ăn hàng ngày thì khỏi [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087].
Theo kinh nghiệm của nhân dân Tunisi, dùng rạ lúa mì sắc uống làm gầy người, sút cân [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087],
Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ, hạt lúa mì có tác dụng làm mát, chứa dầu; bổ, tăng dục, nhuận tràng, làm cho béo, làm tăng sự ngon miệng và vị giác, có tác dụng trị đa tiết mật. ở Trung Quốc, hạt rang lên được coi là có tác dụng trị chứng ra nhiều mồ hôi, đặc biệt trong bệnh lao phổi ở phụ nữ [Kiritkar K.R. et al., 1998: 2700 - 2701],
Trong y học dân gian Italia, mầm lúa mì hâm trong dầu ô - liu, được dùng ngoài, xoa trên da đầu để chữa chứng rụng tóc (De Feo v., 1992). Hạt lúa mì sao cháy được dùng uống trị ho. Cám lúa mì sắc với nước hoặc ngâm trong nước lạnh, lấy nước bôi trên da trị viêm da. Hạt rang nóng, bọc trong gạc đắp trị bệnh khớp. Hạt lúa mì còn được dùng trị viêm họng (Pieroni A. et al., 2002; 2004; 2005). Nước sắc cám lúa mì dùng để rửa và tẩm gạc đắp với giấm trị bong gân. Bột lúa mi trôn với nước hoặc dầu ô - liu và đẳp để trị viêm đầu ngón tay, bỏng và vết thương. Dầu mầm lúa mì trộn với mật ong bôi lên vết bỏng làm mau lên sẹo vết bỏng. Đe một ít bột mì lên bụng ướt, hoặc uống bột mì hoà trong nước mỗi buổi sáng trong 5 ngày để làm giảm đau dạ dày, có tác dụng làm mát. Nhai bánh mì trong thời gian lâu và đắp lên đề hút mủ. Mành vụn bánh mì được tẩm ướt và đắp trị viêm tấy lợi. Hạt lúa mì nhai rồi đắp lên trên gai đâm ở da để lấy gai ra. Đắp bột mì với mạng nhện trị vết thương. Cho bò cái ăn cám lúa mì để tăng tiết sữa (Gwarrera P.M et al., 2005a; 2005b).
Hạt và cám lúa mì được dùng ngoài làm thuốc giảm đau. Đun cám với nước và giấm, bọc trong một miếng vài lanh để đắp. Đắp bột mì trên vết bỏng da. Trộn bột mì với mật ong và bôi để làm mụn mưng mù (Sherrer A.M et al., 2005). Lúa mì được dùng trong thú y để chữa bệnh đường tiêu hoá, bệnh về bộ máy vận động, bệnh da và vết thương và rối loạn sinh sàn ở gia súc (Uncini Manganelli R.E et al., 2001; Viegi L. et al., 2003).
Trong y học dân gian Israel, chồi cây lúa mì được dùng trị ung thư. sắc 200g chồi non trong một lít nước và uống mỗi lần 200ml, ngày 3 lần. Hạt lúa mì trị thiểu máu, sắc lOOg hạt, đun sôi trong một lít nước trong một giờ và uống mỗi lần 150 ml, mỗi ngày 3 lần. Hạt còn được dùng trị bệnh da; ngâm hạt trong nước trong một giờ rồi đắp vào vùng bị bệnh (Said o. et al., 2002).
Trong y học dân gian Tây Ban Nha, bánh mì nướng được dùng trị giun sán, để thanh lọc máu (dùng ăn) và để trị bệnh trĩ (dạng thuốc rửa) (Agelet A. et al., 2003). Trong thú ý, cám lúa mì được dùng làm thuốc sát trùng và chống viêm cho bò cái sau khi đẻ, dưới dạng nước sắc cùng với một số dược thảo (Bonet M.A et al., 2007).
Trong y học dân gian Croatia, hỗn hợp bột mì, bơ, trứng, đường và nước được nướng và ăn để lợi sữa. Quấy chín bột mì với sữa cho trẻ con ăn có tác đụng bổ (Pieroni A et al., 2003). Ở Arghentina nhân dân dùng bột mì để trị bướu cổ, để 3 thìa bột mì vào một miếng vải, rồi buộc chặt vào xung quanh phần trên của cổ, sao cho bột mì tiếp xúc trực tiếp với da. Thay bột mì hàng ngày cho tới khi khỏi. Đề gây nôn, trộn 3 thìa bột mì với 3 thìa sữa trong một cái bát, uống hỗn hợp này cho tới khi nôn (Scarpa G.F et al., 2004).
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH