Tên khoa học: Aconilum napellus L,
Họ khoa học: thuộc họ Mao lương Ranunculaceae
Âu ô đầu là rễ củ phụ (còn gọi là củ con) của cây Âu ô đầu phơi hay sấy khô. Có khi người ta dùng cả củ mẹ.
(Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....)
Âu ô đầu là một loại cỏ mọc khỏe, có rễ phình to thành củ, thân thường ít cành
lá xẻ chân vịt , gần như lá ngải cứu, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt
hơn, nhấm lá sẽ thấy vị nhạt sau như bị kiến đốt nhè nhẹ. Hoa mọc thành chùm,
màu xanh thẫm đôi khi hơi tím nhạt, hoặc trắng có đài hoa phía sau khum thành
hình như cái mũi. Mùa nực rễ cái
sẽ phình thành hình củ giống như củ đậu, phía
trên mang thân cây mọc trong năm, tathường gọi củ mang thân cây này là củ Mẹ.
Nơi gần cổ rễ mọc ra một nhánh nối liền với củ mẹ nói trên với một củ cũng hình
củ đậu nhưng mẫm hơn, trắng hơn ta thường gọi là củ con ( củ phụ). Trên đầu củ
con này có một búp mang lá mầm. Sau khi cây nở hoa củ mẹ sẽ héo và tiêu dần đi
mùa xuân tới từ củ con sẽ mọc lên một thân mới mang lá và hoa khác. Tư củ con
nàytrở thành củ mẹ) sẽ lại mọc ra những củ con mới. Nên chú ý rằng củ con nặng
chắc và khi bẻ có ruột màu trắng, còncủ mẹ thường nhẹ, rông giữa, màu sẫm hơn.
Do đó tây y thường quy định chỉ dùng làm thuốc những củ con, vì chắc và có nhiều
hạt chắc hơn. Nhưng khi hái mọc hoang, người ta thường lấy cả củ mẹ.
Cây Âu ô đầu hiện chưa di thực vào nước ta, nhưng có nhiều triển vọng có thể trồng được. Trồng bằng hạt hay củ. Củ con chứa nhiều ancalôit hơn củ mẹ (có khi gấp 4). Củ mẹ hái trước khi hoa nở cũng chứa nhiều ancalôit, củ mẹ hái vào mua thu thường chứa ít ancalôit nghĩa là củ mang cây đang phát triển thì cây càng lớn, hoa và quả càngphát triển thì củ phải nuôi càng nhiều và càng chứa it ancaloit. Rễ củ hái về phơi hay sấy khô là được
Trong Âu ô đầu co 3 ancalôit chính: aconi-tin, anconin và benzoylaconin. Aconitin độc nhất chiếm 9/10 tổng số ancalôit trong củ. Thủy phân, anconitin sẽ cho axít axtic, axit benzoic và anconin.
C34H47NO11+2H2O®CH3COOH+C6H5COOH+C25H4NO9
aconitina.axetica.benzoicaconin
Trong tây y, Âu ô đầu thường được dùng làm thuốc chữa ho, ra mồ hôi. Thuốc độc
dùng phải hết sức thân trọng.
Củ, lá, rượu thuốc Âu ô đầu đều thuộc thuốc độc bảng A. Theo dược điển Pháp
(1949): Bột củ ô đầu tán vừa mịn, qua mắt rây 24 là l00g, cồn 90 vừa đủ ngâm
kiệt để có được 950g cồn ô đầu.
( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng .... )
Khu phong trừ thấp, ôn kinh, giảm đau.
Vị cay, đắng, tính nóng, có độc mạnh.
Vào 12 kinh , chủ yếu các kinh tâm can, thận tỳ.
Nhiều khớp sưng to đau kéo dài, co duỗi khó, tại khớp không đỏ nóng rõ nhưng đau nhiều, dị dạng kèm theo tê dại, da tím sạm đen, chườm nóng dễ chịu, co duỗi khó khăn, xuất hiện nốt u cục quanh khớp, lâu ngày gây tổn thương thận (viêm thận kẽ, sạn tiết niệu, tiểu ra máu, suy thận cấp, mạn).mạch Trầm Huyền hoặc Khẩn, lưỡi nhợt, rêu trắng là triệu chứng của hàn thấp ứ trệ.
Ô Đầu Tế Tân Thang (Hiện Đại Trung Y Nội Khoa Học): Ô đầu 5g (sắc trước), tế tân 5g, đương quy 12g, xích thược 12g, uy linh tiên 10g, thổ phục 16g, tỳ giải 12g, ý dĩ 20g, mộc thông 10g, quế chi 4-6 g.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH