Viêm đa dây thần kinh là các trường hợp tổn thương đối xứng nhiều dây thần kinh do hiện tượng thoái hoá bao myelin của sợi trục.
Bệnh thường gặp ở các nước đang phát triển, thường do ăn gạo xát sạch cám, phụ nữ đang mang thai, tình trạng nhiễm trùng. Bệnh thường gặp trong thời kỳ chiến tranh, trong các trại giam, do tình trạng nhiễm độc nghề nghiệp, nghiện rượu (chiếm tỷ lệ 3,95% người uống rượu kinh niên).
Nguyên nhân thường gặp là nhiễm độc rượu, chì, arsenic. Do điều trị các thuốc như: Emetin, Bismuth, Sulfamid, mắc bệnh nhiễm khuẩn (bạch hầu), do các rối loạn dinh dưỡng như thiếu vitamin Bl, thiếu ăn, mắc các bệnh ung thư ở giai đoạn suy kiệt, suy thận, hạ đường huyết.
Tổn thương cơ bản là sự thoái hoá myelin trong sợi trục hoặc thoái hoá tế bào thần kinh vận động sừng trước tuỷ sống.
Cảm giác đau và dị cảm đối xứng hai bên (cả tay và chân theo kiểu bít tất), ấn đau dọc dây thần kinh. Rối loạn vận động, liệt nhẽo tứ chi. Rối loạn dinh dưỡng, teo đầu chi, có phản ứng thoái hoá điện.
Đo điện cơ thấy có thoái hoá điện.
Dựa vào triệu chứng trên lâm sàng, kết hợp khai thác nguyên nhân.
- Bệnh bại liệt ở trẻ em (không có rối loạn cảm giác).
- Liệt 2 chi dưới (chỉ ở 2 chân, nếu do u chèn ép thì tiến triển chậm, xét nghiệm albumin trong dịch não tuỷ tăng, chụp cột sống bơm thuốc thấy tắc.
- Nếu do thiếu sinh tố Bl: Sinh tố B1 liều cao 100 - 400 mg/1 ngày. Kết hợp vận động xoa bóp.
- Nếu do nghiện rượu: Điều chỉnh chế độ ăn dồi dào về chất và lượng, các men giúp cho tiêu hoá. Sinh tố B1 100 - 400 mg/1 ngày. Sinh tố B12 1000 gama/1 ngày, sinh tố B2, B6, PP.
- Nếu do bệnh bạch hầu: quan trọng là phòng ngừa, dùng huyết thanh kháng bạch hầu.
Bệnh viêm đa dây thần kinh Thuộc phạm trù "Chứng nuy" của Y học cổ truyền.
Nguyên nhân bệnh teo yếu cũng do 2 mặt là ngoại cảm và nội thương. Ngoại cảm thấp nhiệt độc tà và ở lâu nơi đất ẩm là nguyên nhân bên ngoài, tỳ vị hư nhược và can thận suy hư là nguyên nhân bên trong.
Chứng nuy do tỳ vị tổn thương là chính, tỳ vị hư nhược, chức năng thu nạp vận hoá thất thường, nguồn sinh hoá của tân dịch khí huyết không đầy đủ, cơ bắp gân mạch mất nuôi dưỡng, dẫn tới teo yếu. Cũng có thể tỳ vị hư nhược không vận hoá thuỷ thấp, thuỷ thấp lưu ở khe cơ mà dẫn tới teo yếu.
* Chứng trạng:
Chân tay cơ thể dần dần teo mềm không có lực, nặng thì cơ bắp teo, lười nhác thích nằm, ăn ít không ngon, sắc mặt không sáng, hụt hơi ngại nói, đi ngoài nát loãng, tiểu tiện nhiều lần, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược vô lực.
* Pháp điều trị:
Kiện tỳ ích khí.
* Bài thuốc:
(Hình ảnh mang tính chất minh họa)
Thăng dương ích vị thang (" Nội ngoại thương biện luận") gia giảm.
| - Hoàng kỳ | 12 g | - Đăng sâm | 12 g |
| - Bạch truật | 12 g | - Cam thảo | 06 g |
| - Bạch thược | 09 g | - Đương quy | 06 g |
| - Khương hoạt | 09 g | - Độc hoạt | 09 g |
| - Ngưu tất | 09 g | - Đỗ trọng | 09 g |
| - Sài hồ | 09 g | - Thăng ma | 09 g |
*Ý nghĩa bài thuốc:
Bài thuốc trên là Thăng dương ích vị thang đã bỏ đi các vị Bán hạ, Phòng phong, Phục linh, Trạch tả, Hoàng liên..., lại cho thêm Thăng ma, vừa có hiệu quả thăng dương ích vị, lại có công hiệu bổ trung ích khí. Thuốc bổ khí phối hợp Thăng ma, Sài hồ đối với cơ hoành và cơ tim đều có tác dụng hưng phấn tốt, đối với nhu động ruột. Thăng ma, Sài hồ có tác dụng hiệp đồng đối với thuốc bổ khí như Hoàng kỳ, Đẳng sâm, Bạch truật. Trong bài thuốc Đương quy, Bạch thược bổ huyết, Khương hoạt, Độc hoạt tán hàn thông lạc; Ngưu tất, Đỗ trọng bổ thận tráng cân.
* Chứng trạng
Trạng thái bước đi không vững, tứ chi tê dại, 2 tay run rẩy, ảo giác, ảo thính giác, bứt rứt không yên, lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhớt, mạch tế hoạt.
* Pháp điều trị:
Hoá đàm lợi thấp.
(Hình ảnh mang tính chất minh họa)
* Bài thuốc: Ôn đởm thang (“Tập nghiệm phương") gia giảm.
| - Bán hạ | 09g | - Trần bì | 06 g |
| - Phục linh | 09 g | - Cam thảo | 06 g |
| - Trúc nhự | 09 g | - Chỉ thực | 09 g |
| - Hoàng liên | 03 g | - Bạch truật | 12 g |
| - Bạch thược | 12 g | - Đẳng sâm | 09 g. |
* Ý nghĩa bài thuốc:
Ôn đởm thang là Nhị trần thang thêm vào Trúc nhự, Chỉ thực, Nhị trần hang là bài thuốc cơ bản táo thấp hoá đàm, bao trùm "phế là khí quan tàng làm, tỳ là nguồn sinh đàm", do vậy đàm thấp có quan hệ với tỳ khí hư nhược, cho nên bài thuốc trên thêm vào Đẳng sâm, Bạch truật có cả công liệu của Tứ quân tử thang và Lục quân tử thang. Phạm vi sử dụng của Ôn đởm thang tương đối rộng, ngoài các bệnh tật đường tiêu hoá ra, bệnh mạch máu tim, bệnh gan mật, bệnh phụ khoa, bệnh của ngũ quan, xuất huyết dưới màng nhện, huyết khối mạch máu não, di chứng sau viêm não B cũng được ứng dụng.
- Chọn huyệt chủ: Thiên đỉnh, Ngoại quan, Thần môn, Dương lăng tuyền.
- Huyệt phối: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Hoàn khiêu, uỷ trung, Huyền chung.
- Phương pháp: Căn cứ vùng tổn thương, nếu ở tay dùng Thiên đỉnh, Ngoại quan; ở chân dùng Xung môn, Dương lăng tuyền. Sau khi châm dùng điện châm 20 - 30 phút. Mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Để được tư vấn về bệnh và cách điều trị bạn vui lòng gọi: 18006834 (miễn cước gọi) để được bác sĩ tư vấn chi tiết.
Theo Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH