RỐI LOẠN TÂM THẦN
(Psychiatric disorders)

Bệnh rối loạn tâm thần là gì?

Giới thiệu chung về bệnh

Bệnh tâm thần, rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh thần là hình thức tâm lý hoặc hành vi cá biệt được cho là gây ra đau khổ, mất khả năng cư xử cũng như phát triển bình thường. Điều trị rối loạn tâm thần trên lâm sàng thường kết hợp cả đông và tây y.

Định nghĩa:

Rối loạn tâm thần là “hội chứng hành vi hay tâm lý có ý nghĩa lâm sàng hoặc mô hình tâm lý xuất hiện ở một cá nhân và được kết hợp với hiện tại hoặc khuyết tật hoặc có nguy cơ tăng lên đáng kể của tử vong, đau đớn, tàn tật, hoặc mất tự do nghiêm trọng .

Nguyên nhân

Nguyên nhân rõ rệt của bệnh tâm thần đến nay chưa được phát hiện. Bệnh tâm thần, nói chung, được cho là gây ra bởi một loạt các yếu tố di truyền và môi trường như sau:

- Di truyền: Bệnh tâm thần phổ biến hơn ở những người mà trong gia đình, họ hàng của người đó cũng mắc bệnh tâm thần.

- Yếu tố sinh học: Ngoài những đặc điểm di truyền, các sang chấn từ bên ngoài có thể liên quan đến sự xuất hiện bệnh tâm thần - ví dụ, chấn thương não hoặc tiếp xúc với virus hoặc các chất độc trong khi trong bụng mẹ.

- Trải nghiệm cuộc sống: Tình huống đặc biệt khó khăn trong cuộc sống, chẳng hạn người thân qua đời, thiếu thốn về tài chính và những căng thẳng tâm lý kéo dài có thể góp phần gây bệnh tâm thần.

- Rối loạn sinh hóa não: Thay đổi xảy ra trong não được cho là ảnh hưởng đến tâm trạng và các khía cạnh khác của sức khỏe tâm thần. Hóa chất tự nhiên trong não được gọi là dẫn truyền thần kinh đóng vai trò trong một số bệnh tâm thần. Trong một số trường hợp, sự mất cân bằng nội tiết tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Người ta cho rằng đặc điểm di truyền, kinh nghiệm sống và các yếu tố sinh học đều có thể ảnh hưởng đến sinh hóa não liên quan đến bệnh tâm thần.

Yếu tố nguy cơ:

Nguyên nhân chính xác của bệnh tâm thần chưa được biết. Những yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần:

- Có người thân (cha mẹ hoặc anh chị em) mắc bệnh tâm thần

- Trải nghiệm trong bụng mẹ ví dụ, người mẹ nhiễm bệnh virus hoặc dinh dưỡng kém có thể liên quan đến tâm thần phân liệt.

- Trải qua tình huống căng thẳng, chẳng hạn vấn đề tài chính, người thân qua đời hoặc vợ chồng ly tán.

- Có bệnh mãn tính như ung thư.

- Trải qua trải nghiệm đau thương, chẳng hạn như chiến tranh quân sự hoặc bị hành hung.

-Sử dụng các loại thuốc bất hợp pháp.

- Bị lạm dụng hoặc bị bỏ quên thời thơ ấu.

- Có mối quan hệ không lành mạnh.

Bệnh nhân bị bệnh sẽ dẫn đến những nguy cơ sau:

- Chất lượng sống giảm

- Gia đình xung đột

- Khó thiết lập và duy trì các mối quan hệ.

- Thu hẹp, cách ly với xã hội

- Lạm dụng chất kích thích, gây nghiện.

- Thất bại hoặc gặp nhiều rắc rối trong công việc, học hành Đói nghèo.

- Dễ mắc bệnh tim và bệnh lý cơ thể khác - Vô gia cư - Tự tử.

Chẩn đoán bệnh rối loạn tâm thần

Chẩn đoán chung

Để chuẩn đoán bệnh sẽ loại trừ bệnh lý cơ thể liên quan tới các triệu chứng của người bệnh, xác định chẩn đoán. Các bước này có thể bao gồm:

- Khám lâm sàng: Kiểm tra chỉ số sinh tồn, như nhịp tim, huyết áp và nhiệt độ, nghe tim phổi, và khám ổ bụng.

- Khám xét tâm lý: Bác sĩ tâm thần sẽ nói chuyện về suy nghĩ, cảm xúc và các mẫu hành vi. Sẽ hỏi về triệu chứng về thời điểm xuất hiện, mức độ nặng nhẹ, ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống hàng. Bác sĩ sẽ thảo luận về suy nghĩ có thể đã tự tử, tự làm hại hoặc làm hại người khác. Người bệnh cần phải điền vào bảng hỏi để giúp bác sĩ định hướng chẩn đoán.

- Xét nghiệm: Kiểm tra chức năng tuyến giáp, tình trạng sử dụng rượu và ma túy.

Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng rối loạn cảm giác

- Tăng cảm giác (ngưỡng kích thích hạ thấp) là tăng khả năng thụ cảm với những kích thích tự nhiên mà trong trạng thái bình thường không nhận thấy.

- Giảm cảm giác (ngưỡng kích thích tăng lên) là giảm khả năng thụ cảm với những kích thích tự nhiên.

Các triệu chứng rối loạn tri giác

Tri giác nhầm

- Tri giác nhầm cảm xúc.

- Tri giác nhầm lời nói.

Ảo giác

- Ảo giác là tri giác về một sự vật không hề có thực trong trường tri giác ngay tại thời điểm đó. Bệnh nhân nhìn thấy những sự vật, con người, nghe thấy những âm thanh, lời nói nhưng thực tế lại không có. Đó là tri giác không có đối tượng.

- Ảo giác thính giác (ảo thanh): ảo thanh gồm có ảo thanh thô sơ và ảo thanh phức tạp. Ảo thanh thô sơ: nghe như tiếng chuông, tiếng còi, tiếng máy nổ, tiếng súng…Còn ảo thanh phức tạp thường là nghe thấy tiếng nói, tiếng trò chuyện. Tính chất của nó có thể là bình phẩm hoặc ra lệnh.

- Ảo giác thị giác (ảo thị):ảo thị cũng thường gặp nhưng so với ảo thanh thì ít hơn. Nội dung của ảo thị cũng khá đa dạng như: một ngọn lửa, đom đóm, khói, sương mờ mờ hay rõ rệt, có thể một nội dung hoặc nội dung thay đổi, có thể là một hình ảnh đơn độc hoặc một bộ phận cơ thể (một con mắt, một cái tai..) một đám đông người hoặc một bầy sâu bọ.

- Ảo khứu giác

- Ảo xúc giác

- Ảo vị giác.

Các triệu chứng rối loạn tư duy

Rối loạn hình thức tư duy

-Theo nhịp điệu ngôn ngữ:

+Nhịp nhanh: tư duy phi tán, tư duy dồn dập, nói hổ lốn.

+ Nhịp chậm: tư duy chậm chạp, tư duy ngắt quãng, tư duy lai nhai, yư duy định kiến.

- Theo hình thức phát ngôn: nói một mình, nói tay đôi trong tưởng tượng, trả lời cạnh; không nói; nói lặp lại; đáp lặp lại; nhại lời, cơn xung động lời nói.

- Theo kết cấu ngôn ngữ: rối loạn kết âm và phát âm, ngôn ngữ phân liệt, ngôn ngữ không liên quan...

- Theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ: suy luận bệnh lí, tư duy hai chiều, tư duy tự kỉ...

Rối loạn nội dung tư duy

Định kiến

Định kiến là những ý tưởng dựa trên cơ sở những sự kiện có thực, nhưng bệnh nhân gắn cho nó một ý nghĩa quá mức. Ý tưởng ấy chiếm ưu thế trong ý thức bệnh nhân và được duy trì bằng một cảm xúc mãnh liệt.

Định kiến phát sinh từ những hoàn cảnh thực tế. Bệnh nhân không thấy chỗ sai của định kiến nên không tự đấu tranh, tuy nhiên khi được đả thông có dẫn chứng cụ thể hoặc do thời gian mà định kiến có thể suy giảm dần.

Ám ảnh

Ám ảnh là những ý tưởng, hồi ức, cảm xúc, hành vi không phù hợp với thực tế, luôn luôn xuất hiện ở người bệnh với tính chất cưỡng bức. Người bệnh còn biết phê phán hiện tượng đó là vô lí, là không cần thiết, là sai, muốn tự xua đuổi đi nhưng không thể được.

Những hiện tượng ám ảnh thường đi kèm với nhau, hình thành hội chứng hay trạng thái ám ảnh. Nó bao gồm lo sợ ám ảnh, xu hướng hay hành vi ám ảnh và ý tưởng ám ảnh.

- Ý tưởng ám ảnh: suy luận ám ảnh, tính toán ám ảnh, nhớ ám ảnh, hoài nghi ám -

- Lo sợ ám ảnh

- Xu hướng hành vi ám ảnh: xu hướng ám ảnh, nghi thức ám ảnh, thói quen ám ảnh.

Hoang tưởng

Hoang tưởng là những ý tưởng, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh tâm thần sinh ra, nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích thuyết phục được.

Các loại hoang tưởng

- Các loại hoang tưởng suy đoán: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, bị chi phối, tự buộc tội, ghen tuông, nghi bệnh, tự cao, phát minh, được yêu...

- Các loại hoang tưởng cảm thụ: nhận nhầm, gán ý, đóng kịch, biến hình bản thân...

Các triệu chứng rối loạn cảm xúc

Các triệu chứng giảm và mất cảm xúc

- Giảm khí sắc

- Vô cảm - cảm xúc bàng quan

- Mất cảm giác tâm thần.

Các triệu chứng tăng và dao động cảm xúc

- Tăng khí sắc

- Khoái cảm

- Cảm xúc say đắm - ngẩn ngơ

- Cảm xúc không ổn định.

Các cảm xúc dị thường

- Cảm xúc hai chiều

- Cảm xúc trái ngược.

Các triệu chứng rối loạn trí nhớ

- Giảm nhớ

- Tăng nhớ

- Quên: quên toàn bộ, quên từng phần, quên thuận chiều, quên ngược chiều, quên thuận chiều và ngược chiều, quên trong cơn.

- Loạn nhớ : nhớ giả, nhớ bịa: nhớ nhầm.

Rối loạn hoạt động

Rối loạn hoạt động có ý chí

- Rối loạn vận động: giảm vận động, mất vận động, tăng vận động, vận động dị thường.

Rối loạn hoạt động bản năng

- Xung động phân liệt

- Xung động động kinh

- Xung động trầm cảm

- Các rối loạn bản năng ăn uốn

- Các xung động khác: cơn đi lang thang, cơn trộm cắp, cơn đốt nhà, cơn giết người, rối loạn bản năng tình dục.

Xét nghiệm lâm sàng

Đây có thể bao gồm kiểm tra chức năng tuyến giáp hoặc kiểm tra rượu và thuốc.

Nhưng thường xét nghiệm không cần thiết để chẩn đoán bệnh tâm thần.

Chẩn đoán phân loại

Rối loạn tâm thần cấp

Các biểu hiện triệu chứng: Bệnh nhân có thể trải nghiệm:

- Nghe thấy các tiếng nói bất thường.

- Các điều tin hay sợ hãi kỳ dị.

- Lú lẫn.

- Bất an, bồn chồn.

Các gia đình có thể đưa bệnh nhân đến khám vì các thay đổi trong hành vi của bệnh nhân, bao gồm các hành vi kỳ lạ hoặc biểu hiện hoảng hốt, sợ hãi (tách biệt với mọi người, đa nghi hăm dọa với người khác …).

Các nét đặc trưng để chẩn đoán:

Khởi phát gần đây với:

- Các ảo giác (các cảm giác sai hoặc tưởng tượng, ví dụ: nghe thấy tiếng nói khi không có ai ở xung quanh).

- Các hoang tưởng: bệnh nhân có các ý tưởng hoàn toàn sai lầm mà những người khác cùng nhóm xã hội với họ không có suy nghĩ như vậy (ví dụ: bệnh nhân tin tưởng rằng họ đang bị hàng xóm đầu độc, họ đang nhận được các thông điệp từ T.V hoặc đang bị quan sát theo dõi bởi người khác bằng những phương tiện đặc biệt).

- Kích động hay các hành vi kỳ dị.

- Ngôn ngữ lộn xộn, phân liệt hay ngôn ngữ kỳ lạ.

- Các trạng thái cảm xúc cực đoan và không ổn định.

Rối loạn tâm thần mãn

Các biểu hiện triệu chứng:

Các bệnh nhân có thể biểu hiện:

- Khó khăn trong suy nghĩ và tập trung chú ý.

- Nghe thấy các tiếng nói bất thường.

- Có những điều tin kỳ lạ (ví dụ: có những lực lượng siêu nhiên, bị theo, truy hại…).

- Các triệu chứng cơ thể đặc biệt (ví dụ: có các động vật hay đồ vật bất thường bên trong cơ thể mình).

- Các vấn đề về cảm xúc hành vi bất thường.

- Có thể có các rắc rối trong điều hành công việc hay nghiên cứu.

- Gia đình có thể đưa bệnh nhân đi khám bệnh vì các biểu hiện bàng quan, cô lập, tách biệt với mọi người, lười vệ sinh cá nhân hoặc có cá hành vi kỳ dị.

Các đặc trưng để chẩn đoán:

Là các rối loạn mãn tính với cac đặc trưng sau đây:

- Rút lui, cô lập khỏi xã hội.

- Giảm động lực hoặc giảm các mối quan tâm thích thú, lơ là chăm sóc bản thân.

- Các rối loạn tư duy (biểu hiện bằng ngôn ngữ kỳ lạ hoặc rời rạc không liên quan).

Các giai đoạn có tính chất chu kỳ biểu hiện:

- Kích động hoặc bồn chồn bất an.

- Hành vi kỳ lạ.

- Các ảo giác (các tri giác sai lầm hay tưởng tượng, ví dụ: nghe thấy cá tiếng nói mà người khác không nghe thấy).

- Các hoang tưởng (các điều tin chắc chắn và hoàn toàn sai lầm, ví dụ: bệnh nhân cho rằng mình có dòng dõi hoàng gia, đang nhận được cá thông điệp từ T.V, đang bị theo dõi hoặc truy hại).

Dự phòng

Không có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa bệnh tâm thần. Tuy nhiên, nếu không có bệnh tâm thần, tiến hành các bước để kiểm soát stress, để tăng khả năng đàn hồi và để tăng cường lòng tự trọng có thể giúp giữ các triệu chứng dưới sự kiểm soát. Thực hiện theo các bước sau:

Tham dự vào kế hoạch điều trị

Ngay cả khi đang cảm thấy tốt hơn, chống lại bất kỳ cám dỗ để bỏ thuốc. Nếu dừng lại, triệu chứng có thể trở lại. Cũng có thể có các triệu chứng trở lại nếu ngừng thuốc quá đột ngột. Đừng bỏ qua các buổi trị liệu, thậm chí nếu không cảm thấy cải thiện. Nếu có tác dụng phụ khó chịu hay các vấn đề khác với điều trị, hãy nói chuyện với bác sĩ trước khi thực hiện thay đổi.

Chú ý đến dấu hiệu cảnh báo

Làm việc với bác sĩ hoặc bác sĩ chuyên khoa để tìm hiểu những gì có thể gây ra các triệu chứng. Thực hiện một kế hoạch để biết phải làm gì nếu triệu chứng trở lại. Liên hệ với bác sĩ hoặc chuyên gia trị liệu nếu nhận thấy bất kỳ thay đổi trong các triệu chứng hoặc cảm thấy khác. Hãy xem xét đến thành viên gia đình hoặc bạn bè liên quan biết dấu hiệu cảnh báo.

Hãy thường xuyên chăm sóc y tế

Đừng bỏ qua hoặc bỏ qua kiểm tra, đặc biệt là nếu không cảm thấy tốt. Có thể có một vấn đề sức khỏe mới cần phải được điều trị, hoặc có thể gặp tác dụng phụ của thuốc.

Được giúp đỡ khi cần

Điều kiện sức khỏe tâm thần có thể rất khó điều trị nếu chờ cho đến khi các triệu chứng trở nên tồi tệ. Duy trì điều trị dài hạn cũng có thể giúp ngăn ngừa tái phát các triệu chứng.

Sinh hoạt lành mạnh

Ngủ đủ, ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên đều có thể giúp đỡ cho bệnh tâm thần.

Đông Y Chữa Rối Loạn Tâm Thần
(精神失常)

Rối loạn tâm thần còn gọi bệnh điên cuồng, bệnh thuộc tinh thần thất thường. Điên là nói năng lộn xộn, có lúc trầm ngâm, hay cười (cười như điên). Cuồng là nói năng bạt mạng, không lúc nào yên, đụng đến là tức giận. Sách Nội kinh đã miêu tả là bệnh điên khi mới phát, thì không vui, đầu đau, nhìn thẳng (trực thị) mắt đỏ. Bệnh cuồng mới phát nằm ngủ không yên, nói năng chửi bới ngày đêm không nghỉ. Điên và cuồng phần nhiều là bị tổn thương tình chí. Do đờm khí hoặc đờm hoả nhiễu động gây nên. Song bệnh lý thường chuyển hoá lẫn nhau hai loại này đều do tính thất thường gây nên điên và cuồng cũng xen kẽ xuất hiện.

Căn cứ vào đặc điểm biểu hiện, y học hiện đại cho rằng tinh thần phân liệt, tinh thần phản ứng và ảnh hưởng não dẫn tới tinh thần bị trở ngại.

Còn có trường hợp do cảm nhiễm, trúng độc làm cho tinh thần rối loạn thì không nằm trong phạm trù này.

Nguyên nhân bệnh lý:

Điên cuồng là do tổn thương tình chí gây nên. Sách Chính trị yếu quyết nói: Điên cuồng là do thất tình uất kết.

Điên phát sinh là do tình chí tổn thương can khí uất kết hại đến tỳ khiến tỳ khí không thư, vận hoá thất thường, sinh ra đờm trọc, đờm khí bốc lên làm mờ mịt tâm thần, tinh thần uất ức trầm lặng như ngây phát ra bệnh cuồng. Cũng có trường hợp do nghĩ quá nhiều hại đến tâm tỳ, làm tâm tỳ hư hao, lâu ngày dẫn đến tâm hư hao không tự chủ được, hay nói một mình, tỳ hư không vận hoá thức ăn để sinh ra khí huyết, tâm thần mất sự nuôi dưỡng dẫn đến tinh thần không có chỗ dựa, nói năng lộn xộn, điên cuồng không yên sẽ dẫn đến bệnh cuồng.

Bệnh cuồng phát sinh phần nhiều là do buồn rầu bực tức hại đến can đởm, uất mà dẫn đến đờm khí uất kết, đờm khuất kết sẽ dẫn đến hoá nhiệt thành đờm hoả. Do bệnh lâu ngày tỳ hư không sinh được khí huyết hoặc do nhiệt hao âm cũng dẫn đến tâm tỳ lưỡng hư.

Bệnh này cũng có sự di truyền, trên lâm sàng thường thấy người bệnh điên cuồng là gia đình có tiền sử bệnh này.

Biện chứng phân thể trị liệu

Điên:

Tâm thần do Đờm khí uất kết:

Triệu chứng: tinh thần uất ức, thần chí buồn rầu, nói năng lộn xộn, tự nói một mình, mừng, giận bất thường, khi cười khi khóc, biếng ăn, lưỡi trắng mạch huyền tế hoặc huyền hoạt.

Phân tích: Do can khí không thư thái, tỳ không kiện vận khí uất sinh đờm, trở ngại, tâm khiếu, tâm thần bị che mờ nên thấy tinh thần khác thường. Tỳ khí bị ức chế không vận hoá được, đờm trọc trở ngại bên trong, vị không được điều hoà, nên lưỡi trắng, biếng ăn, can uất hiệp đờm nên mạch huyền hoạt.

Pháp điều trị: Lý khí giải uất, hóa đờm khai khiếu.

Bài thuốc: Thuận khí đạo đàm thang gia giảm: (Nghiệm phương):

Bán hạ 12gTrần bì 12g Phục linh 14g

Cam thảo 4g Sinh khương 6g Đởm tinh 6g Chí thực 8g Mộc hương 6g Hương phụ 12g Viễn chí 10g Uất kim 12g Xương bồ 12g

Sắc uống ngày một thang .

Nếu tinh thần lơ mơ, nói năng lộn xộn, mắt trắng trợn trừng là đờm mê tâm khiếu, tâm thần rối loạn, cho uống trước bài Tổ hợp dương hoàn gồm có vị : Bạch truật, mộc hương, T.N.G, phụ tử, chu sa, kha lê lặc, bạch đàn hương, an tức hương, trầm hương, đinh hương, tất bát (rễ lá lốt), dầu tô hợp hương, huân lục hương.

Sau đó dùng các bài thuận khí hoá đờm.

Nếu không ngủ hay kinh sợ, buồn bực, không yên. Lưỡi đỏ mạch hoạt sác là do đờm khí uất hoá nhiệt, quấy nhiễu tâm thần làm cho thần chí không yên gây nên, dùng bài Ôn đởm thang gia vị ; Bán hạ, trần bì, phục linh, cam thảo, chỉ thực, trúc như, đại táo.

Tâm thần do tâm tỳ lưỡng hư

Triệu chứng: Do tâm tỳ đều hư, tâm thần không được nuôi dưỡng nên hồi hộp, mất ngủ hay mơ. Tâm thần yếu (nên hay hoảng hốt, trầm mặc nói lảm nhảm một mình và tâm hư tạng táo nên hay khóc, mệt mỏi, ăn uống kém, lưỡi nhợt, mạch tế).

Phân tích: Do tâm tỳ đều hư, tâm thần không được nuôi dưỡng nên hồi hộp, mất ngủ hay mơ: Tâm thần yếu (nên hay hoảng hốt, trầm mặc nói lảm nhảm một mình và tâm hư tạng táo nên hay khóc). Tỳ vị hư yếu, ăn uống giảm nên sức yếu, mệt mỏi. Lưỡi nhợt mạch tế cũng là biểu tượng của tâm tỳ đều hư, khí huyết thiếu.

Pháp điều trị: Kiện tỳ bổ huyết, dưỡng tâm an thần.

Bài thuốc: Dưỡng tâm thang gia giảm:

(Chứng trị chuẩn thằng):

Nhân sâm 12g Hoàng kỳ 14g xuyên khung 12g Mạch môn 12g Táo nhân 12g Đương quy 9g Thục địa 9g Sinh địa 9g Phục thần 9g Bá tử nhân 6g Viễn chí 8g Ngũ vị tử 6g Cam thảo 3g Nhục quế 4g, sắc uống ngày một thang.

Bài này với bài Quy tỳ có tác dụng bổ dưỡng tâm tỳ, sức thuốc được phát huy là nhục quế, có tác dụng chấn hưng tâm dương, điều khí ôn trung. Hồi hộp, dễ sợ gia từ thạch. Long xỉ để chấn tâm an thần.

Cuồng:

Tâm thần do đờm hoả quấy nhiễu:

Triệu chứng: Bệnh phát nhanh, tính tình nóng nảy hay tức giận, mắt trợn trừng, chạy nhảy múa may và gào thét chửi bới không thôi, có thể đánh chết người. Mất ngủ, đau đầu, mặt đỏ mắt đỏ, lưỡi vàng mỏng, mạch huyền hoạt sác.

Phân tích: Tức giận hại can, khí uất hoá hoả chèn ngang vị khí nung nấu tân dịch thành đờm, đờm hoả nhiễu ở trên, tâm thần rối loạn nên chạy không yên. Can hoả bốc, nên mặt, mắt, đều đỏ. Lưỡi vàng, mạch huyền hoạt sác đều do can hoả thực nhiệt.

Pháp điều trị: Thanh can tả hoả, chấn tâm tẩy đờm.

Bài thuốc: Sinh thiết lạc ẩm gia giảm :

(Y Học Tâm Ngộ)

Bối mẫu 10g Viễn chí 9g Phục linh 12g Câu đằng 12g Mạch môn 12g Ðởm tinh 6g Xương bồ 4g Thiên môn 10g Phục thần 10g Ðan sâm 8g Trần bì 10g Liên kiều 6g Huyền sâm 10g Thần sa 6g

Sắc uống ngày một thang.

Có thể dùng bài Đương quy long hội hoàn gia vị :

Bán hạ 10g , trần bì 10g, chỉ thực 10g , phục linh 12g, cam thảo 6g , nam tinh 12g, để tả can thanh hoả.

Nếu bụng đầy, đại tiện không thông. Lưỡi vàng dùng bài Điều vị thừa khí thang để tiết nhiệt thông phủ. Nếu buồn bực, khát nước, môi, miệng khô nứt gia thạch cao, tri mẫu, thạch học. Khi khí nóng đã lui, trầm lặng, mệt mỏi chứng trạng như điên mà đờm trọc chưa xuống thì điều trị theo bệnh điên.

Tâm thần do hoả thịnh tổn âm:

Triệu chứng: Bệnh cuồng lâu ngày thành mãn tính thường ỉu xìu mệt mỏi, có lúc hay sợ, nhảy múa, người gầy rộc, môi miệng khô táo, tiểu tiện vàng dắt, lưỡi đỏ mạch, tế sác.

Phân tích: Bệnh cuồng lâu ngày, hoả thịnh hai âm tâm huyết bị hao, âm hư hoả bốc lên nên miệng khô. Tâm thần không được nuôi dưỡng lại bị hư hoả nhiễu động ở trên, không tự chủ được, nên cuồng nộ, khóc lóc, đập phá, lưỡi đỏ mạch tế sác là âm hư có nhiệt.

Pháp điều trị : Tư âm giáng hoả, an thần, định chí.

Bài thuốc: Nhị âm tiễn gồm có vị:

Sinh địa 15g, mạch môn 15g, táo nhân 3 quả, cam thảo 6g, huyền sâm 15g, phục linh 15g, hoàng liên 12g, mộc thông 12g, đăng tâm (bấc đèn) 12g, trúc diệp (lá tre) 12g.

Hợp với bài Thiện kim chí hoàn gia giảm gồm có vị:Nhân sâm, phục thần, thạch xương bồ, viễn chí, cam thảo.

Bệnh điên cuồng đều thuộc đờm khí và đờm hoả. Lại có sự phân biệt âm dương, hư thực, hai loại này thường đơn độc tồn tại và chuyển hoá lẫn nhau. Trong điều trị cần phân biệt không nên câu nệ một phương pháp. Khi điều trị bệnh này nên chú ý nhân tố tinh thần, công tác hộ lý. Châm cứu đối với bệnh này cũng có công hiệu, nên kết hợp và ứng dụng.

Châm Cứu Điều Trị Rối Loạn Tâm Thần

- Châm Cứu Học Thượng Hải: Thanh Tâm, thông khiếu, khoát đờm, giáng trọc làm chính.

. Điên: tiềm dương, tả Hoả.

. Cuồng: lý khí, khai uất.

Huyệt chính:

Nhóm 1: Đại Chùy (Đc.14) + Định Thần + Phong Trì (Đ.20) + Cưu Vỹ (Nh.15) thấu Thượng Quản (Nh.13) + Gian Sử (Tb.5) thấu Chi Câu (Ttu.6) .

Nhóm 2: Á Môn (Đc.15) + Bá Hội (Đc.20) thấu Tứ Thần Thông + Ấn Đường thấu điểm giữa mũi + Kiến Lý (Nh.11) + Nội Quan (Tb.6) + Thông Lý (Tm.5) + Tam Âm Giao (Ty.6) .

Huyệt phụ: Thính Cung (Ttr.19) + Ế Phong (Ttu.17) + Tinh Minh (Bq.1) + An Miên + Thần Đường (Bq.44) + Can Du (Bq.18) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Hổ Biên + Dương Lãng Tuyền (Đ.34) + Lãi Câu (C.5) + Thái Xung (C.3) + Thiếu Thương (P.11) + Lao Cung (Tb.8) + Đại Chung (Th.4) + Thần Môn (Tm.7) .

Cách châm:

+ Cuồng: Dùng nhóm I, đồng thời có thể thêm Lao Cung (Tb.8), Thiếu Thương (P.11), Hợp Cốc (Đtr.4), Thái Xung (C.3), An Miên.

+ Điên: Dùng nhóm II, có thể phối hợp Đại Chung (Th.4), Dương Lăng Tuyền (Đ.34), Lãi Câu (C.5), Thần Môn (Tm.7) .

+ Bách Hợp: Tùy chứng mà chọn huyệt.

Thí dụ như ảo thính thêm Thính Cung (Ttr.19); ảo giác thêm Tinh Minh (Bq.1) ... Huyệt Định Thần có thể châm xiên, hướng mũi kim lên, sâu đến 1, 5 thốn, Đại Chùy châm sâu 1, 5 thốn; Á Môn sâu 1, 5 thốn (huyệt này pHải lấy huyệt cho chính xác, khi châm pHải thận trọng).

2- Thập Tam Quỷ Huyệt: Nhân Trung (Đc.26) + Thiếu Thương (P.11) + Ẩn Bạch (Ty.1) + Đại Lăng (Tb.5) + Thân Mạch (Bq.62) [cứu châm] + Phong Phủ (Đc.16) + Giáp Xa (Vi.6) [ôn châm] + Thừa Tương (Nh.24) + Lao Cung (Tb.8) + Thượng Tinh (Đc.23). Nam dùng Hội Âm, Nữ dùng Ngọc Môn Đầu (huyệt ở tại phía trước miệng âm đạo) + Khúc Trì (Đtr.11) (Hoả châm) + Hải Tuyền (châm ra máu).

13 huyệt trên cứ theo thứ tự mà châm (Thiên Kim Phương).

3- Cự Khuyết (Nh.14), cứu 20 - 30 tráng + Tâm Du (Bq.15) 2 bên mỗi bên 5 tráng (Biển Thước Tâm Thư).

4- Khúc Trì (Đtr.11) + Tuyệt Cốt (Đ.39) + Bá Lao + Dũng Tuyền (Th.1) (Châm Cứu Đại Thành).

5- Thiếu Hải (Tm.3) + Gian Sử (Tb.5) + Thần Môn (Tm.7) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Hậu Khê (Ttr.3) + Phục Lưu (Th.7) + Ty Trúc Không (Ttu.23).

. Kèm si ngốc, dại khờ thêm Thần Môn (Tm.7), Thiếu Thương (P.11), Dũng Tuyền (Th.1), Tâm Du (Bq.15) (Thần Ứng Kinh).

6- Phi Dương (Bq.58) + Thái Ất (Vi.23) + Hoạt Nhục Môn (Vi.24) (Phổ Tế Phương).

7- Huyệt chính: Đại Chùy (Đc.14) + Đào Đạo (Đc.13) .

Huyệt phụ chia làm 2 nhóm:

a - Phong Nham + Nhân Trung (Đc.26) +Tam Âm Giao (Ty.6) .

b- Ế Minh + Hợp Cốc (Đtr.4) thấu Lao Cung (Tb.8) + Túc Tam Lý (Vi.36) (Thường Dụng Trung Y Liệu Pháp Thủ Sách).

8- Nhóm 1: Thiên Xung (Đ.9) + Phong Trì (Đ.20) + Bá Hội (Đc.20) + Công Tôn (Ty.4) + Đầu Duy (Vi.8).

Nhóm 2: Thân Mạch (Bq.62) + Bá Hội (Đc.20) + Phong Trì (Đ.20) + Tâm Du (Bq.15) + Hậu Khê (Ttr.3) .

Nhóm 3: Ty Trúc Không (Ttu.23) + Nhân Trung (Đc.26) + Bá Hội (Đc.20) + Hợp Cốc (Đtr.4) .

Nhóm 4: Côn Lôn (Bq.67) + Bá Hội (Đc.20) + Phong Trì (Đ.20) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Hậu Khê (Ttr.3) + Thân Mạch (Bq.62) (Châm Cứu Học Giản Biên).

9- Châm tả Tâm Du (Bq.15) + Thần Môn (Tm.7) + Nhân Trung (Đc.26) + Nội Quan (Tb.6) + Phong Long (Vi.40) + Kiến Lý (Nh.11) + bổ Thái Xung (C.3) (Châm Cứu Trị Liệu Học).

10- Nhóm 1: Bá Hội (Đc.20) + Thuỷ Câu (Đc.26) + Bản Thần (Đ.13) + Phong Trì (Đ.20) + Đại Chùy (Đc.14) + Thân Trụ (Đc.12) + Thiên Xu (Vi.25) + Thủ Tam Lý (Đtr.10) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Hành Gian (C.2) + Thân Mạch (Bq.62) + Côn Lôn (Bq.67) + Đại Lăng (Tb.7).

Nhóm 2: Đại Chùy (Đc.14) + Bá Hội (Đc.20) + Thần Đình (Đc.24) + Dũng Tuyền (Th.1) + Thiếu Thương (P.11) + Gian Sử (Tb.5) + Thân Trụ (Đc.12) + Cự Khuyết (Nh.14) + Phong Thị (Đ.31) + Phong Phủ (Đc.16) + Suất Cốc (Đ.8) + Nhân Trung (Đc.26) + Ẩn Bạch (Ty.1) + Đại Lăng (Tiết.7) + Cưu Vĩ (Nh.15) + Trung Quản (Nh.12) + Lao Cung (Tb.8) + Thân Mạch (Bq.62) (Lâm Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học)

Điều Trị Rối Loạn Tâm Thần Theo Tây Y

Điều trị nội khoa

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị phụ thuộc vào loại bệnh tâm thần, mức độ nghiêm trọng của tình hình. Thường thì cách tiếp cận nhóm là thích hợp để đảm bảo tất cả các nhu cầu tâm thần, y tế và xã hội được đáp ứng. Điều này đặc biệt quan trọng với bệnh tâm thần nghiêm trọng, chẳng hạn như tâm thần phân liệt.

Các nhóm điều trị

Các nhóm tham gia điều trị có thể bao gồm:

Gia đình hoặc bác sĩ chăm sóc ban đầu.

Bác sĩ tâm thần, bác sĩ chẩn đoán và điều trị bệnh tâm thần.

Trị liệu tâm lý, chẳng hạn như nhà tâm lý hoặc nhân viên tư vấn.

Dược sĩ.

Nhân viên xã hội.

Thành viên gia đình.

Nếu có bệnh nhẹ và triệu chứng tâm thần được kiểm soát tốt, có thể chỉ cần điều trị từ một bác sĩ chăm sóc chính, bác sĩ tâm thần hay tâm lý.

Điều trị tùy chọn

Nhiều phương pháp điều trị cho bệnh tâm thần có sẵn. Việc điều trị cụ thể hoặc phương pháp điều trị sẽ cần phải phụ thuộc vào loại bệnh tâm thần, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, và những gì mà bác sĩ nghĩ rằng sẽ tốt nhất. Trong nhiều trường hợp, sự kết hợp của phương pháp điều trị là tốt nhất.

Thuốc men

Mặc dù thuốc tâm thần không đã thuyên giảm bệnh tâm thần, thường có thể cải thiện triệu chứng đáng kể, cho dù có trầm cảm, tâm thần phân liệt, rối loạn lo âu hay một điều kiện khác. Thuốc tâm thần cũng có thể giúp làm cho phương pháp điều trị khác, chẳng hạn như tâm lý, hiệu quả hơn.

Dưới đây là tổng quan của một số thuốc theo toa thường được sử dụng:

Thuốc chống trầm cảm. Thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị các loại bệnh trầm cảm và đôi khi các vấn đề khác. Thuốc chống trầm cảm có thể giúp cải thiện các triệu chứng như buồn bã, tuyệt vọng, thiếu năng lượng, khó tập trung và thiếu quan tâm trong hoạt động. Thuốc chống trầm cảm được nhóm lại theo cách nó ảnh hưởng đến hóa học não bộ, và một số loại khác có sẵn. Các thuốc chống trầm cảm phổ biến nhất theo quy định là chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) như fluoxetine (Prozac) và citalopram (Celexa). Hiện cũng có nhiều loại thuốc chống trầm cảm khác, tốt nhất phụ thuộc vào tình hình cụ thể và cơ thể phản ứng với thuốc thế nào.

Thuốc ổn định tâm trạng. Thuốc ổn định tâm trạng thường được sử dụng để điều trị rối loạn lưỡng cực, được đặc trưng bởi xen kẽ các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm. Thuốc ổn định tâm trạng bao gồm lithium (Lithobid), divalproex (Depakote), lamotrigine (Lamictal) và những loại khác. Đôi khi, thuốc ổn định tâm trạng được thêm vào thuốc chống trầm cảm để điều trị trầm cảm.

Thuốc chống lo âu. Thuốc chống lo âu, như tên gọi của nó cho thấy, được sử dụng để điều trị rối loạn lo âu, như rối loạn lo âu tổng quát và rối loạn hoảng sợ. Cũng có thể hữu ích trong việc giúp làm giảm kích động và mất ngủ. Những thuốc này thường nhanh chóng tác động, giúp giảm các triệu chứng trong ít nhất là 30 phút. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn là nó có khả năng gây ra phụ thuộc. Thuốc chống lo âu bao gồm alprazolam (Xanax), lorazepam (ATIVAN) và nhiều loại khác.

Thuốc chống loạn thần. Thuốc chống loạn thần, còn gọi là thuốc an thần kinh, thường được sử dụng để điều trị các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt. Thuốc chống loạn thần cũng có thể được dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực hoặc thêm vào thuốc chống trầm cảm để điều trị trầm cảm. Thuốc chống loạn thần bao gồm clozapine (Clozaril), olanzapine (Zyprexa) và những loại khác.

Tâm lý trị liệu

Tâm lý trị liệu là một thuật ngữ chung cho quá trình điều trị bệnh tâm thần bằng cách nói về tình trạng và các vấn đề liên quan với một nhà cung cấp sức khỏe tâm thần. Trong tâm lý trị liệu, tìm hiểu về tình trạng và tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ và hành vi. Sử dụng những hiểu biết và kiến thức có được trong tâm lý trị liệu, có thể tìm hiểu đối phó và kỹ năng quản lý stress. Tâm lý trị liệu thường có thể thành công hoàn thành trong một vài tháng, nhưng trong một số trường hợp, điều trị lâu dài có thể hữu ích. Tâm lý trị liệu có thể diễn ra một ngày một, trong một nhóm hay cùng với các thành viên trong gia đình.

Có rất nhiều loại cụ thể của tâm lý trị liệu, mỗi cách tiếp cận riêng để cải thiện tinh thần được tốt. Các loại tâm lý đúng phụ thuộc vào tình hình cá nhân. Ví dụ về tâm lý liệu pháp nhận thức hành vi bao gồm (CBT), điều trị (IPT), liệu pháp hành vi biện chứng (DBT), và cam kết chấp nhận và điều trị (ACT).

Phương pháp điều trị kích thích não

Kích thích não đôi khi được sử dụng, là phương pháp điều trị trầm cảm và một số rối loạn sức khỏe tâm thần khác. Thường là dành cho các tình huống trong đó thuốc và tâm lý đã không hiệu quả. Chúng bao gồm:

Trị liệu sốc điện (ECT). Sốc điện trị liệu (ECT) là một thủ tục trong đó dòng điện được chuyển qua bộ não, cố tình gây ra sự co giật ngắn. Điều này dường như làm thay đổi hóa học não, có thể nhanh chóng làm giảm triệu chứng của một số bệnh tâm thần, chẳng hạn như trầm cảm. Bởi vì nó có thể cung cấp những cải tiến đáng kể các triệu chứng và nhanh hơn so với tâm lý hay thuốc men, ECT có thể là lựa chọn điều trị tốt nhất trong các tình huống nhất định.

Kích thích xuyên sọ. Phương pháp này sử dụng nam châm mạnh để kích thích các tế bào ở các bộ phận của bộ não liên quan đến cảm xúc. Điều này để làm giảm các triệu chứng trầm cảm ở một số người.

Kích thích dây thần kinh phế vị. Quy trình này sử dụng một thiết bị nhỏ chạy pin (xung điện) cấy vào ngực trên. Nó kết nối với một sợi dây thần kinh ở cổ dẫn đến não (các dây thần kinh phế vị). Các máy phát xung điện định kỳ kích thích các dây thần kinh phế vị. Các tín hiệu điện sau đó đi lên các dây thần kinh phế vị đến não. Điều này được cho là giúp giảm trầm cảm bằng cách kích thích các tế bào não.

Kích thích não bộ sâu. Với thủ thuật này, một máy phát xung nằm ở ngực trên gửi kích thích điện qua dây dẫn đến các khu vực sâu trong não. Điều này được cho là ảnh hưởng đến các bộ phận của não liên quan đến tâm trạng, giảm nhẹ triệu chứng trầm cảm. Nó cũng có thể hữu ích cho chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Bởi vì nó liên quan đến việc phẫu thuật não và phẫu thuật ngực, điều này được xem là một điều trị cuối.

Tham khảo

Các bài tham khảo về bệnh rối loạn tâm thần

Thuốc chữa bênh Rối loạn tâm thần ...

Thuốc chữa bênh luput ban đỏ...

Thuốc chữa bênh Sản giật...

Rối loạn thần kinh, thuốc chữa bênh rối loạn thần kinh ...

Các vị thuốc chữabệnh rối loạn tâm thần

Tác dụng của bài thuốc Bán hạ hậu phác thang chữa trị rối loạn thần kinh ...

Các bài thuốc chữabệnh rối loạn tâm thần

Tác dụng của bài thuốc Sài phác thang chữa rối loạn thần kinh...

Bài thuốc hay chữa bệnh rối loạn thâm thần...

Tham khảo ý kiến thầy thuốc

Thần dược cho người đột quỵ

Thực phẩm cho người tiểu đường

DANH SÁCH CÁC BỆNH

Bệnh hô hấp

Bệnh gan mật

Bệnh thần kinh

Bệnh tiêu hóa

Bệnh tiết niêu

Bệnh tim mạch

Bệnh hạch tuyến

Bệnh hầu họng

Bệnh mắt

Bệnh tai

Bệnh trẻ em

Bệnh phụ nữ

Bệnh Nam khoa

Bệnh ngoài da

Bệnh ung thư

Bệnh cơ xương khớp

Bệnh khi có thai

Bệnh phổi

Bệnh răng miệng

Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.

. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH