Lao màng não là một thể bệnh lao hậu tiên phát (trước đây gọi “lao thứ phát”) do trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây ra.Lao màng não có thể xảy ra ở người nghiện rượu, người bị suy giảm miễn dịch, hoặc người được ghép tạng. Biểu hiện lâm sàng là hội chứng nhiễm độc lao kèm theo hội chứng màng não và hay có tổn thương vùng nền não. Chẩn đoán quyết định khi tìm thấy trực khuẩn lao hoặc kháng nguyên lao trong dịch não tuỷ. Điều trị đặc hiệu bằng các kháng sinh chống lao. Trên lâm sàng có thể kết hợp điều trị cả đông y và tây y.
Lao màng não là bệnh do vi khuẩn lao gây tổn thương ở màng não và não . Lao màng não là thể lao ngoài phổi có tiên lượng nặng, tỷ lệ tử vong còn cao, thường để lại di chứng nặng.
Lao màng não thể nền não: Là thể hay gặp nhất 40 -70%, có biểu hiện lao màng não và triệu chứng tổn thương các dây thần kinh sọ não vùng nền não.
Lao màng não - não: 15 -25%, biểu hiện viêm màng não và tổn thương não do lao.
Lao màng não đơn thuần: 10% thường là các trường hợp được chẩn đoán sớm, có thay đổi dịch não tuỷ theo hướng lao màng não .
Lao màng não - tuỷ: ít gặp.
Thể giống nhiễm khuẩn huyết: Thường gặp ở người già, sức đề kháng kém.
Thể giả u...
* Bệnh khởi phát dần dần với những rối loạn tính cách, dễ bị kích thích, chán ăn, rồi nhức đầu, nôn.
* Hội chứng màng não, đôi khi co giật, rối loạn vận động.
* Phát hiện thấy một ổ nhiễm lao ở nơi khác trong cơ thể.
* Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm dịch não tủy (tăng tế bào lympho, tăng protein, giảm glucose và chlorur).
Khởi phát lao màng não thường đa dạng, tuy nhiên có đặc điểm chung sau:
Bệnh thường khởi phát từ từ, kéo dài vài tuần với các biểu hiện của hội chứng nhiễm độc lao như sốt nhẹ về chiều và tối, mệt mỏi, ăn ngủ kém, gầy sút cân, ra mồ hôi trộm, da xanh...
Kèm theo, có thể có các dấu hiệu về thần kinh, lúc đầu thường nhẹ, thoáng qua và tăng dần: nhức đầu, buồn nôn, mất ngủ, thay đổi tính tình, đôi khi bại nhẹ thoáng qua hoặc co giật cục bộ... Trẻ em thường hay bỏ ăn, bỏ chơi, hay buồn ngủ...
Một số trường hợp khởi phát đột ngột, không điển hình với các biểu hiện: Loạn thần, co giật, sốt cao liên tục, có hội chứng màng não rõ từ đầu... Tuy nhiên, những trường hợp này thường là do không được theo dõi kỹ từ đầu, khi phát hiện ra bệnh đã ở giai đoạn nặng.
Hội chứng nhiễm khuẩn - nhiễm độc: Biểu hiện sốt thường đa dạng, có thể sốt nhẹ về chiều hoặc là sốt cao liên tục, sốt dao động... kèm theo các biểu hiện nhiễm độc lao rõ và cơ thể gầy yếu, suy kiệt nhanh.
Hội chứng màng não: Xuất hiện từ từ, ngày một rõ và đầy đủ hơn. Nhức đầu âm ỉ thường xuyên, đôi khi nhức đầu dữ dội. Có triệu chứng tăng kích thích, sợ ánh sáng, tăng trương lực cơ... Khám thấy dấu hiệu màng não (+).
Các triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú: hay gặp nhất là hội chứng nền, biểu hiện bằng các triệu chứng tổn thương các dây thần kinh sọ não vùng nền não, nhất là các dây II, III, IV, VI, VII, VIII.... Nặng hơn có thể thấy tổn thương các dây IX, X, XI... hoặc liệt nửa người, liệt tứ chi...
Nếu không được điều trị kịp thời, sẽ có rối loạn ý thức, bán hôn mê, hôn mê và tử vong.
Dịch não tuỷ (là xét nghiệm chủ yếu để chẩn đoán bệnh):
– Thể hiện bề ngoài: dịch não tủy tăng áp lực, trong hoặc chỉ hơi đục. Nếu để dịch yên trong ống nghiệm, thì trên bề mặt sẽ hình thành một lớp váng mỏng. Lớp váng này chứa nhiều trực khuẩn lao và được lấy để làm phiến đồ và cấy vi khuẩn.
* Tế bào học: có từ 100-10.000 tế bào trong một pl, phần lớn là tế bào lympho với những bạch cầu hạt không bị thoái hoá ở giai đoạn đầu của bệnh.
* Protein: tăng ít lúc bệnh khởi đầu, rồi tăng dần tới 300 mg/100 ml (3g/l). Người ta đã thấy hàm lượng protein còn cao hơn nữa trong trường hợp bị viêm màng nhện ở tủy sống và tắc nghẽn trong ống sống.
* Glucose: giảm (hàm lượng dưới 50% glucose huyết).
* Chlorur: mới đầu giảm.
* Chẩn đoán nhanh:tìm các kháng nguyên của trực khuẩn lao trong dịch não tủy bằng phản ứng ngưng kết hạt latex hoặc bằng kỹ thuật ELISA (thử nghiệm miễn dịch hấp phụ liên kết enzym).
* Tìm trực khuẩn lao:
+ Soi trực tiếp: khó khăn; người soi phải có kinh nghiệm, tuy nhiên kết quả thường dương tính.
+ Cấy vi khuẩn: cần lấy bệnh phẩm 3 lần; phải bắt đầu điều trị ngay sau khi có kết quả dương tính, vì cấy vi khuẩn chỉ cho kết quả sau từ 6-8 tuần.
* Theo dõi áp lực:trong quá trình điều trị phải theo dõi áp lực của dịch não tủy để phát hiện nếu có tắc nghẽn trong ống sống.
Những xét nghiệm khác: tìm trực khuẩn lao trong đờm và trong nước tiểu.
Xét nghiệm bổ sung: soi đáy mắt (có thể thấy những củ hoặc hạt kê), chụp X quang phổi (có thể thấy sưng hạch trung thất trong thời kỳ sơ nhiễm, tổn thương phổi hoặc tổn thương lao kê), chụp đường tiết niệu bằng tiêm tĩnh mạch thuốc cản quang (có thể phát hiện apxe, tổn thương lao thận).
* Tắc nghẽn trong ống sống: thử nghiệm Queckensted bệnh lý, dịch não tủy chảy không đều, dịch có màu vàng (sắc vàng) với phân ly albumin tế bào, liệt mềm hai chi dưới, rối loạn cơ thắt và phù gai thị (kết quả soi đáy mắt). Tắc nghẽn trong ống sống thường do viêm màng nhện tủy sống gây ra.
* Tổn thương thần kinh không hồi phục: Gây triệu chứng liệt khu trú, lác mắt, mù, bán manh...
* Dày dính màng não, viêm não thất, tắc lưu thông dịch não tuỷ và não nước.
* Rối loạn tâm thần, thiểu năng trí tuệ.
* Động kinh.
* Rối loạn nội tiết và dinh dưỡng do tổn thương vùng dưới đồi, tuyến yên gây đái nhạt, béo bệu...
* Các di chứng do tai biến điều trị thuốc chống lao kéo dài như điếc, rối loạn tiền đình...
* Co giật ,nghe kém ,tăng áp lực nội sọ ,tổn thương não
* Các di chứng bệnh có thể để lại động kinh, liệt nhẹ hoặc liệt hẳn, rối loạn tâm thần, não úng thuỷ.
Cách tốt nhất để phòng lao màng lão là phòng nhiễm trùng lao. Những khu vực mà lao lưu hành phổ biến, vaccin phòng lao (BCG) được sử dụng rộng rãi để phòng bệnh. Vaccin này có hiệu quả kiểm soát nhiễm trùng lao cả ở trẻ em.
Điều trị những người bị nhiễm lao thể không hoạt động hoặc thể ẩn cũng có thể giúp kiểm soát bệnh lây lan. Những cá nhân này là những người có kết quả dương tính với vi khuẩn lao nhưng lại không có bất kì biểu hiện nào của bệnh và vẫn có thể lây truyền bệnh cho người khác.
Lao màng não là một bệnh truyền nhiễm cấp tính theo đường hô hấp, thường được Đông y mô tả trong phạm trù: “bệnh ôn dịch, bệnh ôn”. Triệu chứng đặc trưng là: phát sốt, đau đầu, nôn mửa, cứng gáy, hôn mê. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tuổi nhi đồng hay gặp hơn, thường phát bệnh vào mùa đông - xuân; cao điểm từ tháng 2 – 4 hàng năm. Người xưa thường luận trị chứng bệnh này trong phạm trù “xuân ôn”, “phong ôn”.
Thường do vệ khí không kiên cố, tà khí ôn dịch xâm nhập vào mũi mồm. Y học ực/ỏ truyền chia quá trình diễn biến bệnh 3 thời kỳ, tuy nhiên trên thực tế lâm sàng giới hạn giữa các thời kỳ không rõ ràng.
Thời kỳ khởi phát: Sợ lạnh phát sốt, miệng khô, họng đau, đau đầu, triệu chứng đó là do chính khí tà khí giao tranh ở phần vệ khí . Nếu sức đề kháng tốt thì bệnh tà dừng ở phần vệ, không chuyển vào trong.
Nếu như sức đề kháng của cơ thể giảm sút, bệnh tà chuyển vào lý (khí, doanh, huyết); trên lâm sàng thường có biểu hiện vệ khí đồng bệnh, khí doanh (huyết) lưỡng phạm, gây nên chứng lý thực nhiệt do chính thịnh và tà thực. Thời kỳ này tương ứng thời kỳ toàn phát.
Nếu tà độc hoá hoả, hoả nhiệt thượng xung: sẽ thấy sốt cao đau đầu dữ dội, cứng gáy. Nếu tà độc phạm vị sẽ thấy nôn khan hoặc nôn mửa. Độc thịnh thương doanh huyết gây ra nhiễu tâm phiền táo, ban chẩn toàn thân. Nhiệt nhập tâm bào phát sinh ra thần hôn, loạn ngôn, lưỡi không linh hoạt.
Nếu dương khí hư suy, tà độc nội ẩn thì sắc mặt trắng bệnh , chi lạnh sợ lạnh, mạch vi muốn tuyệt. Sốt cao kéo dài dẫn đến can phong nội động: đau đầu, nôn mửa, cứng gáy nặng dần, tay chân giá lạnh; co giật, hôn mê, rối loạn nhịp thở . Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ viêm não - màng não.
Triệu chứng: Đau họng, đau đầu, nôn mửa , cứng gáy, Kernig dương tính, thần chí chưa lẫn hoặc phiền táo, sắc mặt hồng nhợt hoặc hồng tía, ban điểm xuất huyết; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng; mạch hoạt sác.
Pháp điều trị thanh nhiệt giải độc, giải biểu.
Phương thuốc: “ngân kiều thang” gia vị:
Cát căn 20g Hoắc hương 04g Kim ngân 20g Cam thảo 06g Liên kiều 20g Thư cúc hoa 12g Đại thanh diệp 20g Bạc hà 06g Bản lam căn 30g.
Sắc uống mỗi ngày một thang, chia 2 – 3 lần uống.
Nếu có sốt cao phiền táo thì thêm sinh thạch cao 35g.
Triệu chứng: Sốt cao liên tục, đầu đau, nôn mửa nhiều; tâm phiền táo, thần hỗn loạn ngôn, ban chẩn mọc nhiều rõ, sắc mặt xám xạm hoặc hồng tía; môi lưỡi hồng khô, rêu lưỡi vàng khô; mạch hồng đại hoặc hoạt sác.
Pháp điều trị: thanh doanh giải độc.
Phương thuốc thanh doanh thang gia giảm:
Sinh địa 16g Huyền sâm 16g Đạm trúc diệp 12g Liên kiều 20g Tê giác 6g Đại thanh diệp 30g Bản lam căn 30g Câu đằng 20g Địa long khô 20g Sinh thạch cao 30g.
Sắc uống ngày một , chia từ 2- 3 lần uống.
Gia giảm:
Nếu đại tiện bế thì gia thêm: đại hoàng 12g; bụng chướng thì thêm chỉ thực 12g; đàm nhiều thì thêm: triết bối mẫu 4g, trúc lịch 20g
Nếu sốt cao hôn mê gia thêm “ngưu hoàng hoàn”: người lớn một viên; trẻ nhỏ 3 –5 tuổi 1/2 viên, từ 1 -2 tuổi 1/4 viên.
Hoặc dùng tử tuyết đan người lớn uống 2g- 4g/24h, trẻ em 0,5g - 1g mỗi lần; ngày uống 2 lần. Khi khám thấy chỉ văn bình thường thì ngừng thuốc.
“An cung ngưu hoàng” ( ngưu hoàng thanh tâm) (ôn bệnh đều biến) gồm:
Ngưu hoàng 33g Uất kim 33g.
Tê giác 30g Hoàng liên 30g Chu sa 30g Thuỷ phấn (long não) 10g.
Chân châu 20g Sơn chi tử 30g Hùng hoàng 30g Hoàng cầm 30g Xạ hương 10g.
Tất cả tán thành bột mịn trộn mật ong làm hoàn.
Công dụng bài thuốc: khai khiếu chấn kinh thanh nhiệt giải độc.
“Tử tuyết đan”: (hòa tễ cục phương):
Hoạt thạch 1 phiến (30g) Thạchcao 1 phiến(30g).
Hàn thuỷ thanh 1 phiến (30g) Từ thanh 2phiến (60g). (cho vào sắc trước).
Các vị thuốc cho vào sắc sau:
Linh dương giác 150g Thanh mộc hương 150g Tê giác 150g Trầm hương 150g Đinh hương 33g Thăng 330g Huyền sâm 330g Chích thảo 150g.
8 vị thuốc này trộn với 4 vị thuốc trên; trưng đều và chế thành cao lỏng, trộn thêm tá dược làm thành viên gọi là “cao đau”.
Triệu chứng: Bệnh nguy cấp, nặng lên trong một thời gian ngắn, sắc mặt vàng bệch, ban chẩn tăng nhanh từng đám mảng, môi tím tái khó thở, tay chân lạnh, vã mồ hôi, mạch tế hoặc vi, thở yếu, tụt huyết áp, có thể vong dương.
Pháp điều trị: Cứu thoát khai bế.
Phương huyệt thường dùng: Nếu có triệu chứng “vong dương” phải châm ngay các huyệt: dũng tuyền, túc tam lý hoặc dùng nhĩ châm các huyệt: dưới vỏ, tuyến thượng thận, nội tiết.
Nếu diễn biến nặng phải cho uống thêm: Quế lâm sâm 12g (dạng bột hoà cùng với chế phẩm thuốc “chí ngọc đan” hoặc “tô hợp hương hoàn” liều lượng theo hướng dẫn của bài thuốc).
Nếu tứ chi hơi ấm, thở gấp, miệng khát là khí - âm lưỡng thương thì phải dùng thêm “sinh mạch tán” uống nhiều lần để ích khí sinh tân.
Nếu như bệnh nặng phải kết hợp với Y học hiện đại, tích cực điều trị cấp cứu đến khi bình thường thì tiếp tục điều trị theo biện chứng Y học cổ truyền.
Triệu chứng: Bệnh nhân đột nhiên sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn mửa liên tục; chân tay co giật, hôn mê, gáy cổ cứng; đàm viêm tụ thịnh; hô hấp khó khăn; chất lưỡi hồng sáng, rêu lưỡi nhờn; mạch huyền hoạt mà sác.
Pháp điều trị: thanh nhiệt giải độc, lương doanh tức phong.
Phương thuốc Thanh ôn bài độc ẩm gia giảm:
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 12g Sinh địa 15g Huyền sâm 12g Chi tử12g Liên kiều 12g Câu đằng 12g Đại thanh diệp 30g Bản lam căn 30g Tê giác 12g (Tê giác có thể thay bằng thuỷ ngưu giác 60g).
Gia giảm:
Nếu bệnh nhân hôn mê thì dùng “an cung ngưu hoàng hoàn”, “tử tuyết đan” hoặc “chí ngọc đan”. Nếu đoản khí, khó thở khò khè, đờm đặc khó khạc thì dùng thêm cát lâm sâm 12g, sắc nước uống, kết hợp với: long não 10g hoặc xạ hương 20g.
Nếu có phù não, cứng gáy nhiều thì gia thêm các vị thuốc sau: Ngưu tất 20g Bạch mao căn 30g.
Sa tiền thảo 24g Đại xích thạch 24g Liên kiều 12g Đại thanh điệp 30g Hạnh nhân 12g.
Sắc nước uống. Nếu nặng thì mỗi ngày uống 2 thang, đến khi thoát khỏi hôn mê thì dùng quay lại các phương thuốc trên).
Người ta dùng phương thuốc “phục phương liên kiều”được chế dưới dạng tiêm và dạng truyền.
Thành phần của bài thuốc:
Kim ngân hoa 7500g Bản lam căn 5000g Quán chúng 5000g Hoàng liên 5000g Sinh thạch cao 5000g Hoàng liên 5000g Câu đằng 5000g Tri mẫu 2500g Long đởm thảo 5000g Cam thảo 1500g.
Bài thuốc được bào chế thành dạng thuốc tiêm hoặc truyền tĩnh mạch được chỉ định điều trị theo chỉ dẫn đảm bảo nguyên tắc vô trùng, an toàn, hiệu quả.
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, lương huyết hoá ban, trấn kinh tức phong. Bài thuốc có tác dụng ức chế vi khuẩn song cầu và viêm màng não rõ rệt. Phạm vi sử dụng rộng rãi, rất ít tác dụng phụ. Đối với thể viêm não thông thường, chỉ cần dùng 1 phương trên cũng có kết quả tốt. Đối với thể viêm não nặng thì phải phối hợp với tây y để điều trị.
Thể nhẹ mỗi ngày 4 lần tiêm bắp, mỗi lần 6 – 9ml và sau đó thì giảm liều.
+ Theo tài liệu của Học viện Hà Nam và Học viện Trung y Hà Nam, dung dịch thanh nhiệt giải độc được tổ chức như sau:
Sinh thạch cao 15600g Tri mẫu 1250g Huyền sâm 2500g Mạch môn đông 1250g Long đởm thảo 1550g Hoàng cầm 1550g Liên kiều 1550g Sơn chi tử 1550g Bản lam căn 1550g Tử hoa địa đinh 1550g Kim ngân hoa 31225g Sinh địa hoàng 1875g.
Bài thuốc này được bào chế thành dạng thuốc tiêm, truyền tĩnh mạch; được chỉ định điều trị cho các thể nhẹ.
1 - 6 tuổi mỗi lần dùng 2 - 4ml; 7 - 12 tuổi mỗi lần dùng 4 - 6ml ; 12 tuổi trở lên mỗi lần dùng 6 - 8ml , cứ 6h tiêm bắt thịt một lần.
Mỗi đợt điều trị 3- 5 ngày.
Vô hoạn tử căn 30g Thư cúc hoa 30g Thanh đại diệp 30g Thương nhĩ thảo 20g Chám hạch liên 20g Sinh thạch cao 60g.
Sắc nước uống, mỗi ngày uống từ 1- 2 thang, dùng đối với thể nhẹ.
Thể nặng thì gia thêm các vị: bồ công anh, bạch mao căn, bản lam căn mỗi thứ đều 33g; đáo gia thảo, cẩu can lai mỗi thứ 32g; kim ngân hoa diệp, thư cúc hoa diệp, đạm trúc diệp mỗi thứ đều 20g. Sắc nước uống mỗi ngày 2 thang chia làm 4 lần dùng cho thể nhẹ.
Nếu sốt cao châm cứu các huyệt: đại truỳ, khúc trì, hợp cốc.
Nếu nôn mửa châm các huyệt: nội quan, túc tam lý.
Phiền táo, co giật thì châm các huyệt: nội quan, đại truỳ, thần môn, thập tuyên.
Nếu không tỉnh thì tiêm “dung dịch địa long”.
Nếu bụng chướng thì châm các huyệt: quan nguyên, khí hải, túc tam lý.
Nếu bí đái thì châm các huyệt: trung cực, khúc cốt, phục lưu, thuỷ tuyền, tam âm giao.
Đổ máu cam, chảy máu đường tiêu hoá thì dùng “bột điền thất”, “bột bạch thược Vân Nam”, và các thuốc nam để chỉ huyết cầm máu.
Nếu suy tuần hoàn thì châm các huyệt: dũng tuyền, túc tam lý; có thể dùng nhĩ châm các huyệt: dưới vỏ, tuyến thượng thận, nội phân tiết. Lúc đầu thì kích thích mạnh; sau khi huyết áp tăng lên rồi thì kích thích nhẹ, kéo dài và giãn cách; sau khi huyết áp ổn định thì rút kim. Nếu bệnh diễn biến nặng thì phối hợp châm thân thể với nhĩ châm; khi cần thiết thì phối hợp cứu bách hội.
Nếu bệnh nhân suy hô hấp cần châm nhân trung hoặc cứu đản trung, hoặc châm sâu huyệt hội âm.
Điều trị sớm, tại bệnh viện.
Phối hợp kháng sinh chống lao liều cao ngay từ đầu, đủ liều, kéo dài, đủ phác đồ, theo dõi tác dụng phụ của thuốc.
Nâng cao sức đề kháng toàn thân, kết hợp theo dõi chống biến chứng, di chứng...
Điều trị thuốc kháng lao
Về nguyên tắc, điều trị như đối với lao nói chung, nhưng thường phải sử dụng các phác đồ mạnh (kết hợp 3 - 4 loại thuốc kháng lao).
Phác đồ 4 thuốc thường là: Stretomyxin + rimifon + rifampyxin + pyrazinamid (hoặc ethambutol). Phác đồ 3 thuốc thường là: Streptomyxin + rimifon + rifampyxin hoặc streptomyxin + rimifon + ethambutol...
Thời gian điều trị tấn công thông thường trung bình 2 - 4 tháng tại bệnh viện (cho đến khi dịch não tuỷ ổn định, gần trở về bình thường).
Liều lượng thuốc lao:
Rifampyxin: 10 mg/kg/24 giờ.
Rimifon: 5 - 10 mg/kg/24 giờ.
Pyrazinamid: 30 - 40 mg/kg/24 giờ.
Streptomyxin: 15 mg/kg/24 giờ.
Ethambutol: 15 - 25 mg/kg/24 giờ.
Thời gian điều trị duy trì (tại gia đình, đơn vị): Giống như các phác đồ chống lao phổi, nhưng thường phải kéo dài thêm 2 tháng nữa.
Vấn đề đưa thuốc kháng lao vào dịch não tuỷ: Hiện nay có nhiều loại thuốc chống lao ngấm tốt vào dịch não tuỷ. Do vậy, nói chung không có chỉ định đưa thuốc kháng lao vào dịch não tuỷ. Tuy nhiên, những trường hợp nặng, điều trị muộn, đã có biến chứng dày dính màng não... có thể đưa liều nhỏ (người lớn: 0,05 - 0,07 g/1lần) streptomyxin vào dịch não tuỷ.
Corticoid liệu pháp: Dùng kết hợp thuốc kháng lao trong những trường hợp nặng, điều trị muộn, đã có biến chứng hoặc dịch não tuỷ có Protein cao > 2 g/lit. Thường dùng loại uống (Cortancyl), liều trung bình (liều khởi đầu với người lớn thường là 30-45 mg/24 giờ trong ngày đầu), giảm dần ( thường 7 – 14 ngày giảm đi 5 mg) và kéo dài (thời gian điều trị trung bình 1,5 – 2 tháng). Tuỳ theo diễn biến của dịch não tuỷ mà giảm liều hoặc duy trì liều Corticoid. Khi liều Cortancyl còn 5 – 15 mg thì kéo dài 10 -15 ngày thì ngừng.
Chống phù não (như đối với viêm màng não mủ).
Tăng cường dinh dưỡng, truyền đạm, máu, vitamin...
Ngăn ngừa và theo dõi tác dụng phụ của thuốc chống lao : Khi sử dụng các thuốc chống lao thường cho thêm các thuốc bảo vệ tế bào gan (fortec, eganin...), vitamin B6 (cho liều bằng 1/10 liều rimifon), thường xuyên theo dõi xét nghiệm chức năng gan, thận và phản ứng dị ứng với thuốc lao.
Vệ sinh cá nhân, chống loét.
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH