Bệnh bại liệt (Poliomyelitis) là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính lây truyền theo đường tiêu hóa do vi rút Polio gây lên, có thể lan truyền thành dịch. Bệnh được nhận biết qua biểu hiện của hội chứng liệt mềm cấp. Vi rút Polio sau khi vào cơ thể sẽ đến hạch bạch huyết, tại đây một số ít vi rút Polio xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương gây tổn thương ở các tế bào sừng trước tủy sống và tế bào thần kinh vận động của vỏ não
Virus polio là nguyên nhân gây bệnh, thuộc chi vi rút đường ruột (Enterovirus), thuộc họ Picornavirida, có hình khối cầu, không có vỏ, chứa ARN. Vi rút bại liệt Polio có 3 typ:
Typ I : Giữ vai trò chính trong gây bệnh (90%) có tên gọi là Brunhilde
Typ II : có tên gọi là Lansing
Typ III: có tên gọi là Leon
Vi rút bại liệt sống dai ở môi trường bên ngoài. Trong phân, chúng sống được nhiều tháng ở nhiệt độ 0 - 40C. Trong nước, chúng sống được 2 tuần ở nhiệt độ thường. Vi rút bại liệt bị tiêu diệt ở nhiệt độ 560C sau 30 phút và bị tiêu diệt bởi thuốc tím. Liều clo trong nước sinh hoạt không tiêu diệt được vi rút bại liệt.
Poliovirus có thể được truyền qua nước bị ô nhiễm và thực phẩm hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với người bị nhiễm virus. Bại liệt truyền nhiễm mà bất kỳ ai đang sống với một người gần đây đã bị nhiễm bệnh có thể bị nhiễm. Những người mang poliovirus bị lây nhiễm nhất bảy đến 10 ngày trước và sau khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện, có thể lây lan virus trong phân.
Virus bại liệt Polio lây truyền từ người này sang người khác thông qua đường tiêu hóa. Người bệnh hoặc người lành mang mầm bệnh đào thải rất nhiều virus theo phân làm ô nhiễm nguồn nước, thực phẩm, sữa hoặc các thực phẩm khác rồi từ đó vào đường tiêu hóa của người khác.
Ở những người không có miễn dịch, sau khi từ đường ruột xâm nhập vào cơ thể, virus bại liệt Polio sẽ đến hạch bạch huyết. Một số ít virus sẽ xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, gây tổn thương tế bào vận động của vỏ não và tế bào sừng trước tủy sống, gây nên các triệu chứng bệnh. Cũng có khi virus lây truyền qua đường hầu họng. Không có bằng chứng chứng minh virus bại liệt Polio lây truyền qua côn trùng.
Liệt bại liệt có thể dẫn đến tê liệt cơ bắp tạm thời hoặc vĩnh viễn, tàn tật, biến dạng của hông, mắt cá chân và bàn chân. Mặc dù có nhiều dị tật có thể được sửa chữa bằng phẫu thuật và vật lý trị liệu, các phương pháp điều trị có thể không được lựa chọn trong việc phát triển ở các quốc gia nơi bệnh bại liệt vẫn còn lưu hành. Kết quả là, trẻ em sống sót sau bệnh bại liệt có thể với cuộc sống bị khuyết tật nặng.
+ Thể liệt mềm cấp điển hình: chiếm 1% với các triệu chứng sốt, chán ăn, nhức đầu, buồn nôn, đau cơ các chi, gáy và lưng, dần dần mất vận động dẫn đến liệt không đối xứng. Mức độ liệt tối đa là liệt tủy sống, liệt hành tủy dẫn đến suy hô hấp và tử vong. Liệt ở chi, không hồi phục làm bệnh nhân khó vận động hoặc mất vận động.
+ Thể viêm màng não vô khuẩn: Sốt, nhức đầu, đau cơ, cứng gáy.
+ Thể nhẹ: Sốt, khó ngủ, nhức đầu, buồn nôn, nôn, táo bón, có thể phục hồi trong vài ngày.
+ Thể ẩn, không rõ triệu chứng là thể thường gặp, song thể nhẹ có thể biến chuyển sang nặng.
- Bệnh phẩm: Để phân lập chính xác được vi rút bại liệt Polio bệnh phẩm chính là phân bệnh nhân được lấy trong vòng 14 ngày kể từ khi mắc bệnh.
Biện pháp phòng ngừa
Tiêm vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động hiệu quả nhất.
Ngoài ra còn cần giữ vệ sinh môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát tránh ô nhiễm.
Theo Y học cổ truyền, bệnh độc (virut) thuộc loại phong thấp nhiệt tà do mồm mũi xâm nhập cơ thể phạm vào phế vị nên có triệu chứng sốt, họng đỏ hoặc nôn, tiêu chảy ... Chức năng phế vị (tỳ) suy giảm gây nên khí huyết mất điều hòa (phế chủ khí vị là nguồn gốc của sinh hóa) gân cơ mất dinh duỡng mà sinh bại liệt, bệnh lâu ngày khí huyết càng bị tổn thương, tinh huyết không đủ thì can thận cũng hư tổn mà sinh chứng nuy (gân cơ leo liệt).
Triệu chứng chủ yếu: sốt, buồn nôn hoặc nôn, nhiều mồ hôi bứt rứt, lơ mơ hoặc quấy khóc, đau toàn thân (chạm vào người trẻ khóc, không cho bế ) rêu lưỡi vàng dính mạch hoạt sác.
Phép chữa: Khu phong thanh nhiệt thông lạc
Bài thuốc: Độc hoạt ký sinh thang gia giảm
| Xuyên ngưu tất | 12 | Hoàng cầm | 12 | Hoàng bá | 12 | ||
| Độc hoạt | 8 | Đương qui | 12 | Cát cánh | 16 | Đơn bì | 12 |
| Tang ký sinh | 12 | Bach thược | 12 | Bạch linh | 12 | Sinh hoàng kỳ | 12 |
| Tần giao | 12 | Cam thảo | 4 | Gừng tươi | 12 | ||
Gia giảm:
+ Nôn, tiêu chảy: Hoắc hương chính khí tán 4 - 8g uống với nước gừng.
+ Mồ hôi nhiều gia: Mẫu lệ (bọc sắc trước) 16g, Lá dâu 8g.
+ Đau cơ nhiều: Rượu quế hoặc gừng 10% xoa cơ đau.
Triệu chứng chủ yếu : là liệt chi, liệt cơ mặt (méo mồm) hoặc liệt cơ bụng (lồi ở bụng) Liệt hô hấp (khó thò, khò khè) Liệt cơ bàng quang (bí đái hoặc đái không tự chủ), bứt rút, mồm khát, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phép chữa: Thanh nhiệt lợi thấp thông lạc, bổ khí hoạt huyết.
Bài thuốc: Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm
| đương qui | 12 | Đào nhân | 4-8 | Ý dĩ | 16 | ||
| Sinh hoàng kỳ | 30 | Xuyên khung | 8 | Địa long | 10 | Đảng sâm | 2-3 |
| Xích thược | 8 | Sinh địa | 12 | Thạch cao | 30-40 | Cam thảo | 4 |
Do bệnh làm tổn thương can thận, khí huyết kém gây teo cơ và liệt
Phép chữa Bổ ích can thận, ôn thông kinh lạc. Dùng thuốc kết hợp châm cứu
Bài thuốc: Thất bảo mỹ nhiệm đơn gia giảm
| Đương qui | 10-12 | Xuyên ngưu tất | 10-12 | Nhục thung dung | 8 | ||
| Hoàng kỳ | 10-12 | Thục địa | 10-12 | Ba kích thiên | 10-12 | Nhãn sâm | 8 |
| Hà thủ ô | 10-12 | Tục đoạn | 10-12 | Bổ cốt chỉ | 10-12 | Cam thảo | 4 |
| Hạt sen | 12 | ||||||
Châm cứu va xoa bóp vận động chi chủ yếu dùng cho chứng liệt và chống teo cơ hồi phục chức năng vận động. Tùy theo bộ phận mà chọn huyệt châm cứu
Chi trên: Kiên ngung, Khúc trì, Ngoai quan, Hơp cốc.
Chi dưới: Hoàn khiêu, Túc tam lý, Phong thi, Dương lăng tuyền, Tuyệt cốt
Liệt mặt: Giáp xa, Địa thương, Hợp cốc
Liệt cơ hoành: Cưu vĩ, Cách du, Kỳ môn.
Liệt cơ bụng: Trung quản, Lương môn, Khí hài.
Liệt cơ bàng quang: Thận du. Bàng quang du. Trung cực.
Táo bón: Quan nguyên. Túc tam lý. Đại tràng du
Có thể kết hợp phương pháp điện châm hoặc cấy chi
- Xoa bóp và vân động là liệu pháp là rất có giá tri để chống leo cơ và phục hồi chức năng chi liệt.
Bệnh bại liệt là bệnh lây nhiễm do vi rút nên hiện chưa có các biện pháp điều trị đặc hiệu. Điều trị bệnh bài liệt là điều trị nâng đỡ và điều trị triệu chứng:
- Bất động hoàn toàn.
- Tăng cường và nâng cao thể trạng bằng sinh tố và dịch truyền.
- Hỗ trợ hô hấp, nếu có dấu hiệu của liệt tủy.
- Phục hồi chức năng và khắc phục di chứng, cải thiện sức mạnh và phục hồi thể lực.
- Thuốc: thuốc giảm đau như aspirin và nhóm thuốc kháng sinh nếu có bội nhiễm vi khuẩn được dùng theo chỉ định của bác sĩ.
Để được tư vấn về bệnh và cách điều trị bạn vui lòng gọi: 18006834 (miễn cước gọi).
Theo Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH