Di chứng sau bệnh bại liệt là một tình trạng mà một số người bị bại liệt khi còn trẻ có thể gặp những năm sau đó.Bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut bại liệt gây ra. Bệnh lây theo đường hô hấp và đường tiêu hoá. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu là những biểu hiện liệt mềm ngoại vi, không có rối loạn cảm giác kèm theo. Di chứng bại liệt do nhiều nguyên nhân gây ra. Trên lâm sàng thường kết hợp điều trị cả đông và tây y.
Di chứng bại liệt là sự thoái hoá của các tế bào thần kinh kéo dài sau nhiều năm do bệnh bại liệt gây ra .Bệnh bại liệt là một bệnh nhiễm vi-rút cấp tính lây truyền theo đường tiêu hoá do vi-rút Polio (Poliovirus) gây nên, có thể lan truyền thành dịch. Bệnh được nhận biết qua biểu hiện của hội chứng liệt mềm cấp. Vi-rút Polio sau khi vào cơ thể sẽ đến hạch bạch huyết, tại đây một số ít vi-rút Polio xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương gây tổn thương ở các tế bào sừng trước tủy sống và tế bào thần kinh vận động của vỏ não.
Không ai biết chính xác những gì gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng sau bệnh bại liệt xuất hiện nhiều năm sau khi lần đầu tiên bị bệnh bại liệt. Hiện nay, lý thuyết được chấp nhận nhất về nguyên nhân của hội chứng sau bệnh bại liệt dựa trên ý tưởng của thoái hóa tế bào thần kinh.
Khi poliovirus lây nhiễm cơ thể, nó ảnh hưởng đến tế bào thần kinh gọi là tế bào thần kinh vận động - đặc biệt là trong dây cột sống - mang thông điệp (điện xung) giữa não và cơ.
Tế bào thần kinh bao gồm ba thành phần cơ bản:
Tế bào thân.
Nhánh lớn (sợi trục).
Nhiều nhánh nhỏ (sợi nhánh).
Bệnh bại liệt thường gây phá hủy hoặc hư hại nhiều các tế bào thần kinh vận động. Để bù đắp cho sự thiếu hụt tế bào thần kinh, sợi mới mọc lên từ các tế bào thần kinh còn lại, và các đơn vị còn sống sót trở lên phì đại. Điều này thúc đẩy sự phục hồi sử dụng các cơ bắp, nhưng có gia tăng căng thẳng trên tế bào thần kinh để nuôi dưỡng các sợi bổ sung. Những căng thẳng này có thể nhiều hơn để các tế bào thần kinh có thể xử lý, dẫn đến sự suy giảm dần dần của các sợi bổ xung và cuối cùng là chính các tế bào thần kinh.
Một giả thuyết khác là bệnh ban đầu có thể đã tạo ra một phản ứng tự miễn dịch, làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào bình thường như thể chúng là chất ngoại lai. Một số chuyên gia tin rằng poliovirus có thể tồn tại trong cơ thể và kích hoạt lại vào những năm sau đó.
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ phát triển hội chứng sau bệnh bại liệt bao gồm:
Mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng bại liệt ban đầu. Nhiễm trùng ban đầu nặng hơn, nhiều khả năng sẽ có những dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng sau bệnh bại liệt.
Tuổi khởi phát của bệnh ban đầu. Nếu có bệnh bại liệt khi vị thành niên hay người lớn, không phải là một đứa trẻ, nguy cơ phát triển hội chứng sau bệnh bại liệt tăng.
Phục hồi. Phục hồi sau khi bại liệt cấp tính kém, có vẻ như nhiều khả năng hội chứng sau bại liệt sẽ phát triển. Điều này có thể là do căng thẳng những nơi phục hồi tế bào thần kinh vận động bổ xung.
Hoạt động thể chất. Nếu thường xuyên thực hiện các hoạt động thể chất đến mức kiệt sức hay mệt mỏi, làm việc quá sức có thể đã kích hoạt tế bào thần kinh vận động và làm tăng nguy cơ hội chứng sau bệnh bại liệt.
* Hỏi bệnh sử và khám thực thể.
* Các xét nghiệm để xác định sự lây nhiễm và mức độ của bệnh bao gồm: chọc ống sống thắt lưng, kiểm tra dịch não tủy, xét nghiệm mức độ của kháng thể với vi-rút bại liệt, nuôi cấy dịch mẫu các chất tiết họng, phân hay dịch não tủy để kiểm tra sự hiện diện của vi-rút Polio.
Hội chứng sau bệnh bại liệt dùng để chỉ một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện - trung bình từ 30 đến 40 năm sau khi bệnh bắt đầu. Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp bao gồm:
Đau yếu cơ, khớp tiến triển.
Mệt mỏi và kiệt sức với các hoạt động tối thiểu.
Teo cơ bắp.
Khó thở hoặc khó nuốt.
Rối loạn giấc ngủ liên quan đến hô hấp, chẳng hạn như ngưng thở khi ngủ.
Giảm dung nạp nhiệt độ lạnh.
Trong hầu hết mọi người, hội chứng sau bệnh bại liệt có xu hướng tiến triển từ từ, có dấu hiệu mới và các triệu chứng tiếp theo thời kỳ ổn định.
Nếu yếu hay mệt mỏi có vẻ như từ từ trở nên tệ hơn, hãy gặp bác sĩ. Điều quan trọng để loại trừ các nguyên nhân khác có dấu hiệu và triệu chứng có thể yêu cầu điều trị khác với những gì hiện đang có với hội chứng sau bệnh bại liệt.
Điện cơ (EMG) và nghiên cứu dẫn truyền thần kinh. Biện pháp điện cơ đo điện sản xuất từ trong cơ. Kim điện cực được đưa vào. Một dụng cụ ghi lại hoạt động điện trong khi cơ nghỉ và khi hoạt động. Một biến thể nghiên cứu điện thần kinh cơ, hai điện cực ghi trên da ở trên thần kinh nghiên cứu. Cú sốc nhỏ được truyền qua dây thần kinh để đo tốc độ tín hiệu thần kinh. Các thử nghiệm này giúp xác định và loại trừ các bệnh như đau thần kinh, một tình trạng bất thường của dây thần kinh, bệnh cơ và mô cơ.
Hình ảnh. Có thể trải qua kiểm tra, chẳng hạn như cộng hưởng từ (MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT), để tạo ra hình ảnh của não và tủy sống. Các kiểm tra này có thể giúp loại trừ các rối loạn thần kinh cột sống, chẳng hạn như thoái hóa cột sống hoặc hẹp cột sống, thu hẹp cột sống gây áp lực lên dây thần kinh.
Xét nghiệm máu. Những người bị hội chứng sau bại liệt thường có các mẫu máu bình thường. Kết quả xét nghiệm máu bất thường có thể chỉ ra một vấn đề cơ bản gây ra các triệu chứng.
Nói chung, hội chứng sau bệnh bại liệt hiếm khi đe dọa tính mạng, nhưng yếu cơ nghiêm trọng có thể dẫn đến biến chứng:
Ngã :Yếu ở cơ chân làm cho mất thăng bằng và ngã dễ dàng hơn. Ngã có thể dẫn đến xương bị gãy, chẳng hạn như gãy xương hông, dẫn đến các biến chứng khác.
Suy dinh dưỡng, mất nước, viêm phổi. Những người đã bị bại liệt hành tủy, ảnh hưởng đến dây thần kinh dẫn đến cơ liên quan đến việc nhai và nuốt, thường gặp khó với các hoạt động này cũng như các dấu hiệu khác của hội chứng sau bệnh bại liệt. Nhai và nuốt, những vấn đề có thể dẫn đến dinh dưỡng không đầy đủ và để mất nước, cũng như viêm phổi do hít thức ăn vào phổi.
Suy hô hấp cấp tính. Yếu cơ hoành và cơ ngực làm cho khó thở sâu và ho, cuối cùng có thể dẫn đến tích tụ dịch và chất nhầy trong phổi. Béo phì, độ cong của cột sống, bất động kéo dài và một số thuốc có thể làm giảm khả năng thở, có thể dẫn đến suy hô hấp cấp tính. Điều này được đặc trưng bởi sự sụt giảm mạnh oxy trong máu và có thể yêu cầu phải được điều trị trợ giúp hô hấp.
Loãng xương. Không hoạt động và vận động kéo dài thường đi kèm với mất mật độ xương và loãng xương ở cả nam giới và phụ nữ. Nếu có hội chứng sau bệnh bại liệt, có thể được sàng lọc loãng xương.
Hồi phục
Phải đối phó lại với một căn bệnh này có thể chán nản, thậm chí áp đảo. Phục hồi từ các bệnh ban đầu cần quyết tâm, nhưng các hiệu ứng cuối của bệnh bại liệt yêu cầu phải nghỉ ngơi và bảo tồn năng lượng. Di chuyển có thể là một chuyển đổi khó khăn. Dưới đây là một số gợi ý có thể giúp:
Hạn chế các hoạt động gây đau đớn hay mệt mỏi. Điều độ là then chốt. Hoạt động quá mức vào một ngày có thể dẫn đến một số điều xấu cho ngày tiếp theo.
Sinh hoạt thông minh. Bảo tồn năng lượng thông qua thay đổi lối sống và các thiết bị trợ giúp không có nghĩa là đang mang lại bệnh tật. Nó chỉ có nghĩa là đã tìm thấy một cách thông minh hơn để đối phó với nó.
Giữ ấm. Cơ bắp lạnh sẽ làm mệt mỏi tăng. Hãy giữ cho nhà ở có một nhiệt độ thoải mái và ăn mặc đủ, đặc biệt là khi đi ra ngoài.
Tránh té ngã. Loại bỏ thảm bọc và lộn xộn trên sàn nhà, mang giày tốt, và tránh các bề mặt trơn hoặc lạnh giá.
Duy trì lối sống lành mạnh. Ăn chế độ ăn uống cân bằng, ngừng hút thuốc lá và giảm lượng cà phê để giữ cho phù hợp, hít thở dễ dàng hơn và ngủ ngon hơn.
Bảo vệ phổi. Nếu hơi thở bị suy yếu, theo dõi các dấu hiệu của nhiễm trùng đường hô hấp phát triển, có thể làm cho vấn đề hô hấp nặng hơn, và được điều trị kịp thời. Ngoài ra, tránh hút thuốc lá và dùng vắc xin cúm và viêm phổi.
* Tuyên truyền giáo dục cộng đồng vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân. Vì bệnh bại liệt do vi-rút Polio thâm nhập qua đường ruột nên tuyên truyền tập trung vào vệ sinh nguồn nước, thực phẩm, các phương pháp giữ gìn vệ sinh bảo quản, chế biến trong ăn uống.
* Ăn uống theo các qui định của vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Phòng bệnh chủ động: tiêm phòng vắc xin
Biện pháp chống dịch
* Tổ chức hệ thống giám sát dịch tễ và báo cáo
* Giám sát trọng điểm: Tại những vùng, những điểm có nguy cơ cao và xảy ra dịch bệnh: Trạm y tế, bệnh viện khu vực, nhà trẻ, trường học. Bệnh nhân được thăm khám và báo cáo các trường hợp liệt mềm cấp nghi ngờ.
* Giám sát bệnh và người lành mang mầm bệnh.
* Lấy bệnh phẩm: ở các trường hợp có chẩn đoán xác định về lâm sàng, lấy đủ 2 mẫu phân cách 24-48 giờ bảo quản lạnh 4-8 độ C gửi đến phòng thí nghiệm chuẩn Quốc gia.
* Giám sát tác nhân gây bệnh: Xây dựng và chuẩn hoá các phòng thí nghiệm đủ khả năng phân lập xác định týp huyết thanh học, hệ thống xét nghiệm sinh học phân tử để chẩn đoán phân biệt và xác định vật liệu di truyền. Phòng thí nghiệm chuẩn được Tổ chức Y tế Thế giới giám sát, kiểm tra chất lượng và cấp chứng nhận Quốc tế.
* Xây dựng hệ thống báo cáo thường xuyên định kỳ theo tuyến từ cơ sở đến quốc gia; từ quốc gia đến khu vực và Tổ chức Y tế Thế giới.
* Khi xảy ra dịch, các bệnh nhân đã được chẩn đoán lâm sàng xác định hoặc nghi ngờ mắc bệnh bại liệt được chuyển đến bệnh viện được chỉ định (khoa lây với phòng cách ly) để điều trị và theo dõi.
* Xử lý môi trường: Xử lý địa bàn xảy ra dịch, bệnh viện nơi thu dung điều trị bệnh nhân. Áp dụng các thuốc khử trùng, tẩy uế chloramin B, formalin, các chất oxy hoá, vôi bột. Đặc biệt phải tiệt trùng quần áo, chăn màn, đồ dùng và vật dụng sinh hoạt bằng hấp khử trùng nhiệt độ cao có áp lực.
Nuy chứng chỉ chứng bệnh gân mạch chân tay toàn thân lỏng lẻo, mềm yếu vô lực, lâu ngày không vận động được dẫn đến cơ thịt bị teo lại. Lâm sàng thường gặp chi dưới mền yếu nhiều hơn, cho nên còn gọi là Nuy tý. Nuy là chân tay yếu mềm vô dụng, Tý là chỉ chi dưới yếu mềm không có sức, khôn g đi giày dép được.
Bệnh này sách Nội Kinh Tố Vấn đă bàn rất kỹ trong các thiên ‘Tý Luận’ (TVấn 43), ‘Nuy Luận’ (TVấn 44). Hai thiên này nêu lên nguyên nhân, bệnh lý của bệnh này, chủ yếu là ‘Phế nhiệt diệp tiêu ‘ (lá phổi bị héo quắt vì nhiệt), Phế táo không phân phối chất tinh vi đến năm Tạng cho nên xuất hiện chứng trạng cơ thịt chân teo lại. Các y gia đời sau, không ngừng bổ sung nhận xét thêm, như sách ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ cho rằng chứng Nuy chủ yếu là nguyên khí bị tổn thương, khiến cho tinh bị hư không tưới khắp được, huyết hư cũng không doanh dưỡng được đến nỗi gân xương mềm yếu, do đó, điều trị chủ yếu phải tư dưỡng tinh huyết, bổ ích Tỳ Vị.
Căn cứ vào đặc trưng lâm sàng của chứng Nuy, giống với các chứng viêm thần kinh đa phát, viêm tủy sống cấp tính, teo cơ, liệt cơ năng, tê dại có chu kỳ, dinh dưỡng cơ không tốt, bại liệt do Hysterie và liệt mềm do di chứng của trung khu thần kinh trong y học hiện đại.
Nguyên nhân dẫn đến chứng Nuy có ngoại cảm và nội thương.
Cảm nhiễm nhiệt tà thấp độc và ở lâu nơi ẩm ướt mà thành bệnh thuộc ngoại cảm;
TỳVị hư yếu và Can Thận hư suy là nguyên nhân nội thương. Nhưng ngoại cảm gây bệnh, lâu ngày khôn g khỏi cũng ảnh hưởng đến công năng của nội tạng, vì vậy nội thương và ngoại cảm có mối quan hệ nhất định. Thời kỳ đầu mắc bệnh, yếu tố chính là ngoại cảm, nếu chính khí bất túc, thì nguyên nhân chủ yếu là do nội thương.
Chứng Nuy có thể phát sinh ở chi trên hoặc chi dưới, ở một hoặc cả hai bên, hoặc chỉ thấy bắt đầu từ các ngón tay, chân cảm thấy mềm yếu không có sức, cử động bị hạn chế có khi bị bại liệt, teo cơ.
Nguyên tắc chữa chứng Nuy trước hết phải phân biệt hư thực.
Nói chung, mới bị bệnh, nhiệt tà chưa hư, thấp nhiệt cảm nhiễm thường thuộc chứng thực, tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp có hư lẫn lộn. Tỳ Vị hư yếu và Can Thận suy yếu đều thuộc chứng Hư, nhưng cũng có thể kèm cả thấp nhiệt, lúc biện chứng, cần cẩn thận.
Trong thiên ‘Nuy Luận’ (Tố Vấn 44) có nêu ra cách trị chứng Nuy: chỉ cần điều chỉnh một mình kinh Dương minh, với lý luận rằng Dương minh là bể của năm Tạng sáu Phủ, làm nhuận tôn cân, mà tôn cân lại là cơ quan chủ yếu buộc chặt xương. Nguồn tân dịch c ủa Phế là ở Tỳ Vị, tinh huyết của Can Thận nhờ vào sự tiếp thu, vận hóa của Tỳ Vị mà có, cho nên khi gặp dịch của Vị khôn g đủ thì phải ích Vị dưỡng âm, Tỳ Vị hư yếu lại càng cần phải điều hòa Tỳ Vị, làm cho công năng của nó mạnh lên, ăn uống tăng, dịch của Vị được hồi phục, thì dịch của Phế đầy đủ, công năng khí huyết Tạng Phủ trở nên mạnh, gân mạch được nuôi dưỡng có lợi cho sự khôi phục đối với chứng Nuy, vì vậy trong lâm sàng điều trị hiện nay, dù dùng thuốc hay châm cứu nói chung, đều theo nguyên tắc này.
Triệu chứng: Lúc đầu phần nhiều có sốt, đột nhiên thấy chân tay mềm yếu, vô lực, da khô, tâm phiền, khát nước, ho khan, họng khô, tiểu vàng, tiểu ít, táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Tế Sác.
Pháp điều trị: Thanh nhiệt, nhuận táo, dưỡng Phế, ích Vị.
Dùng bài Thanh Táo Cứu Phế Thang gia giảm.
Sa sâm 15g Mạch môn 12g Thạch cao 15g Hạnh nhân 12g Tang diệp 12g
Sốt không hạ, sốt cao, khát nước, có mồ hôi, có thể dùng Thạch cao liều cao và dùng thêm Sinh địa, Tri mẫu, Ngân hoa, Liên kiều để sinh tân, thanh nhiệt và khư tà.
Nếu ho khan, ít đờm, họng khô, có thể linh hoạt dùng các vị thuốc có tác dụng nhuận Phế, thanh tuyên như Tiền hồ, Qua lâu bì, Tang bạch bì, Tỳ bà diệp.
Nếu cơ thể không nóng, mỏi mệt, kém ăn thì bỏ Thạch cao, thêm Sơn dược, Ý dĩ nhân, Hồng táo, Cốc nha để ích khí, dưỡng Vị.
Triệu chứng: Chân tay mềm yếu không có sức hoặc có phù nhẹ, tê dại, thường gặp ở chi dưới, hoặc có khi phát sốt, nước tiểu vàng, tiểu ít, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Nhu hoặc Sác.
Pháp điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp. Dùng bài Nhị Diệu Tán gia vị.
Hoàng bá 15g Thương truật 15g Ý dĩ. 12g Tỳ giải 12g Phòng kỷ 15g Trạch tả 15g Ngưu tất 15g Ngũ gia bì 15g
Nếu thấp tà nhiều, thì ngực bụng đầy, chân tay mềm yếu, nặng nề và hơi phù, rêu lưỡi trắng nhớt, có thể thêm Hậu phác, Trần bì, Phục linh để hóa thấp và phân lợi. Vào mùa Hạ và Thu nên dùng thêm Hoắc hương, Bội lan để phương hương hóa trọc.
Nếu nhiệt nhiều, thì nhiệt sẽ làm tổn thương phần âm, gầy ốm, hai chân nóng, tâm phiền, miệng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch Nhu Sác, nên bỏ Thương truật, thêm Sinh địa, Quy bản, Mạch môn để dưỡng âm, thanh nhiệt.
Nếu chân tay tê dại, không có cảm giác, chân yếu hoặc chân cảm thấy đau, chất lưỡi tím, mạch Sác, có bệnh sử kéo dài lại kèm có ứ huyết ứ đọng, có thể dùng Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Xích thược, x.s.g để hoạt huyết, thông lạc.
Trong khi uống thuốc, có thể phối hợp với các vị thuốc Thương nhĩ thảo, Hổ trượng, Uy linh tiên, Nhẫn đông đằng nấu nước để xông và rửa, hoặc lấy bã của thuốc sắc, nấu lại lần thứ 3 lấy nước xông rửa cũng tốt.
Triệu chứng: Chi dưới mềm yếu, không có sức, dần dần kém ăn, tiêu lỏng, mặt phù, sắc mặt kém tươi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Tế.
Pháp điều trị: Ích khí, kiện Tỳ.
Dùng bài Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Hoài sơn, Biển đậu, Liên nhục đều 12g Trần bì, Phục linh, Ý dĩ 15g Hồng táo 12g Thần khúc 9g
Nếu bị bệnh lâu ngày, teo cơ, thể lực yếu, nên dùng Nhân sâm, Hoài sơn liều cao và thêm Hoàng kỳ, Đương quy.
Triệu chứng: Lúc đầu phát bệnh từ từ, toàn thân mềm yếu, không có sức, lưng gối mỏi, kèm theo các chứng chóng mặt, ù tai, di tinh hoặc tiểu nhiều, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác.
Pháp điều trị: Bổ ích Can Thận, tư âm, thanh nhiệt.
Dùng bài Hổ Tiềm Hoàn gia giảm.
Địa hoàng, Quy bản, Tri mẫu, Hoàng bá đều 15g Tỏa dương, HC, Ngưu tất đều 12g Đương quy, Bạch thược đều 15g
Nếu sắc mặt không tươi hoặc vàng úa, chóng mặt, hồi hộp, chất lưỡi đỏ, mạch Tế Nhược, có thể thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Hà thủ ô, Kê huyết đằng để bổ dưỡng khí huyết.
Nếu bệnh lâu ngày, bệnh âm liên lụy đến Dương, có chứng sợ lạnh, lưỡi nhạt, mạch Trầm Tế, liệt dương, tiểu tiện vặt mà nước tiểu trong, có thể thêm Lộc giác phiến, Bổ cốt chỉ để ôn Thận trợ dương.
Ngoài những phương thuốc dạng sắc để trị chứng Nuy, nên phối hợp với châm cứu và xoa bóp cũng có khả năng khôi phục nhanh hoặc hạn chế mức độ teo cơ.
Theo Châm Cứu Học Thượng Hải:
Kết hợp lấy huyệt theo kinh và huyệt tại chỗ.
* Chi Trên Liệt: Kiên ngung (Đtr.15), Kiên liêu (Ttu.14), Khúc trì (Đtr.11), Tý nhu (Đtr.14), Kiên tam châm (Kiên tiền, Kiên ngung, Kiên hậu).
+ Khủy tay không co duỗi được: thêm Khúc trạch (Tb.3), Nội quan (Tb.5), Ngoại quan (Ttu.5), Tam trì (Trì tiền, Khúc trì, Trì hậu).
+ Cổ tay rũ xuống: thêm Ngoại quan (Ttu.5), Tứ độc (Ttu.9).
* Chi Dưới Liệt: Thận du (Bq.23), Hoàn khiêu (Đ.30), Ân môn (Bq.37), Bể quan (Vi.31), Túc tam lý (Vi.36), Dương lăng tuyền (Đ.34).
+ Chân nhấc khó khăn: thêm Phục thố (Vi.32).
+ Đầu gối co lại: thêm Âm thị (Vi.33).
+ Chân gấp ngược lên: thêm Thừa sơn (Bq.57), Thữa phò (Bq.57), Ủy trung (Bq.40).
+ Bàn chân bị thõng xuống: thêm Giải khê (Vi.41).
+ Bàn chân lệch vào trong: thêm Phong thị (Đ.31), Tuyệt cốt (Đ.38), Côn lôn (Bq.60).
+ Chân lệch ra ngoài: thêm Tam âm giao (Ty.6), Thái khê (Th.3).
Theo ‘Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học’:
+ Chi trên: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Dương khê.
+ Chi dưới: Bể quan, Lương khâu, Túc tam lý, Giải khê.
. Phế nhiệt thêm Xích trạch, Phế du.
. Vị nhiệt: thêm Nội đình, Trung quản.
. Thấp nhiệt: thêm Âm lăng tuyền, Tỳ du.
. Can Thận bất túc thêm Can du, Thận du, Huyền chung, Dương lăng tuyền, Thái khê.
. Nếu do chấn thương: thêm Cách du, Huyết hải.
(Theo Nội Kinh, trị nuy trọc, dùng Dương minh, vì vậy, lấy huyệt của kinh thủ túc Dương minh làm chính. Kinh Dương minh nhiều khí, nhiều huyết, ‘chủ nhuận tông cân’để thanh nhiệt, nhuận tông cân. Dương minh và Thái âm có quan hệ biểu lý. Phế chủ trị về khớp, Tỳ chủ sự vận hóa, vì vậy dùng Phế du, Xích trạch để thanh nhiệt ở Phế, sinh tân dịch; Tỳ du, Âm lăng tuyền để hóa thấp nhiệt, kiện trung tiêu. Can Thận bất túc, dùng du huyệt của Can và Thận để điều bổ tinh khí của Can, Thận; Dương lăng tuyền là huyệt hội của cân, Huyền chung là huyệt hội của tủy, Thái khê là nguyên huyệt của kinh Thận, các huyệt này phối hợp có tác dụng làm mạnh gân, ích tủy, tư thủy. Trung quản là huyệt hội của phủ, Nội đình là huyệt vinh của kinh Vị dùng để thanh tả nhiệt ở Vị. Cách du là huyệt hội của huyết, hợp với Huyết hải để hoạt huyết, hóa ứ).
Dùng phép châm tả, lưu kim 20-30 phút, ngày châm một lân, 10 lần là một liệu trình.
Can Thận bất túc, châm bổ, có thể thêm cứu, mỗi ngày hoặc cách ngày cứu một lần, mỗi lần 15-20 phút. 15 ngày là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Nhĩ Châm:
Chọn huyệt Phế, Vị, Đại trường, Can, Thận, Tỳ, Thần môn, Vùng tương ứng chỗ bệnh. mỗi lần chọn 3-5 huyệt, kích thích mạnh, lưu kim 10 phút. Cách ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
* Đầu Châm:
Châm phía đối bên bệnh: Khu Vận Dụng, Khu Cảm Ứng. Châm cả hai bên: Khu Túc Vận Cảm. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm một lần, vê kim 200 cái, mỗi lần cách nhau 5-10 phút. Lưu kim 30-60 phút. Có thể dùng xung điện 20 phút (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Bởi vì các dấu hiệu và triệu chứng thường thay đổi, không có điều trị cụ thể cho hội chứng sau bại liệt. Mục tiêu của điều trị là để quản lý các triệu chứng và giúp làm cho cơ thể thoải mái và độc lập nhất có thể:
Bảo tồn năng lượng.
Điều này liên quan nhịp hoạt động thể chất và kết hợp nó với thời gian nghỉ ngơi thường xuyên để làm giảm mệt mỏi. Thiết bị trợ giúp, như xe lăn, khung tập đi hoặc xe có động cơ, cũng có thể giúp tiết kiệm năng lượng. Thậm chí liệu pháp hướng dẫn cách để thở có thể trợ giúp bảo tồn năng lượng.
Vật lý trị liệu.
Trị liệu có thể kê toa hoặc các bài tập tăng cường cơ bắp mà không cần phải trải qua mệt mỏi. Thường có những hoạt động căng thẳng ít hơn, như bơi mỗi ngày với tốc độ thư thái. Tập thể dục để duy trì thể lực là quan trọng, nhưng phải thận trọng trong các hoạt động thể dục thường xuyên và hàng ngày. Tránh dùng quá mức các cơ và khớp xương và cố gắng tập thể dục ngoài điểm đau hoặc mệt mỏi. Nếu không, cần nghỉ ngơi để lấy lại sức mạnh.
Liệu pháp nghề nghiệp.
Vật lý trị liệu hoặc trị liệu nghề nghiệp có thể giúp thay đổi môi trường gia đình để an toàn và thuận tiện. Trị liệu cũng có thể giúp sắp xếp lại đồ nội thất hoặc suy nghĩ lại công việc gia đình hoặc công việc liên quan đến nhiệm vụ, giảm số lượng các bước phải thực hiện và tăng hiệu quả.
Chuyên gia trị liệu lời nói có thể chỉ cho cách để bù đắp cho việc nói và nuốt khó khăn.
Ngưng thở khi ngủ. Điều trị chứng ngưng thở khi ngủ, chứng này phổ biến ở những người bị hội chứng sau bại liệt, có thể liên quan đến việc thay đổi mô hình ngủ, chẳng hạn như tránh ngủ nằm ngửa, hoặc sử dụng thiết bị giúp mở đường thông khí bị chặn.
Thuốc men, bao gồm cả aspirin và chống viêm không steroid khác, các thuốc khác làm giãn cơ và giảm đau khớp. Nhiều loại thuốc - kể cả pyridostigmine (Mestinon), Amantadine (Symmetrel), modafinil (Provigil), giống như insulin, yếu tố - I tăng trưởng (IGF-I) và alpha - 2 tái tổ hợp interferon - đã được nghiên cứu là phương pháp điều trị cho hội chứng sau bệnh bại liệt, nhưng không có lợi ích rõ ràng đã được tìm thấy. Nghiên cứu ban đầu về các globulin miễn dịch dạng tiêm tĩnh mạch cho thấy nó có thể làm giảm đau, tăng cường sức mạnh và cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người bị hội chứng sau bại liệt.
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Lương y Nguyễn Hữu Toàn . Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH