Bệnh Cushing (Cushing's Syndrome)

Đông y chữa bệnh Cushing

Tây y chữa bệnh Cushing

Khái niệm

Giới thiệu chung về bệnh

Bệnh Cushing: là bệnh do u tuyến yên tăng tiết ACTH (là tên viết tắt của hormone kích vỏ thượng thận adrenocorticotropic hormone) gây quá sản thượng thận 2 bên. U tuyến yên thường là dạng adenoma chiếm hơn 90%, kích thước thường nhỏ 1cm. Có thể có triệu chứng đau đầu, bán manh, nhìn mờ khi khối u to gây chèn ép giao thoa thị giác. Xét nghiệm Cortisol huyết tăng và mất nhịp tiết ngày đêm,ACTH tăng.Trong điều trị bệnh cushing trên lâm sàng thường kết hợp cả đông và tây y do bệnh được hình thành từ các khối u tuyến yên nên thường có chỉ định phẩu thuật cắt bỏ khối u phối hợp với tia xạ trị liệu sau đó điều trị các triệu chứng kèm theo.

Bệnh Cushing là gì?

Bệnh Cushing có nguồn gốc từ tuyến yên, có thể do u hoặc một rối loạn bất thường, gây tăng tiết nồng độ ACTH, kích thích vỏ thượng thận sản xuất quá thừa glucocorticoid .   Bệnh Cushing thường thấy ở trẻ tuổi từ 8-15 tuổi,người lớn hay gặp ở độ tuổi từ 20-50 tuổi, cả hai giới đều gặp. Bệnh Cushing diễn biến chậm, mạn tính, kéo dài từ 3-5 năm.

Nguyên nhân bệnh

+ Do thuốc: do điều trị liều cao hoặc kéo dài corticoid.

+ Do cường sản hoặc u vỏ thượng thận (khối u có thể lành hoặc ác tính).

+ Do cường sản hoặc u tuyến yên (bệnh Cushing).

+ Ung thư nhau thai, khối u buồng trứng, ung thư tế bào nhỏ ở phổi, u đại tràng, u tuyến ức, bản thận các khối u này tăng tiết ACTH.

Cơ chế bệnh sinh

Do cường chức năng lớp bó (lớp thừng) của vỏ tuyến thượng thận dẫn đến tăng tiết quá nhiều glucocorticoid, gây nên các triệu chứng lâm sàng như béo phì, tăng huyết áp, thưa xương, tăng đường máu...

Do u hoặc cường sản tế bào bêta của thùy trước tuyến yên dẫn đến tăng tiết ACTH, tiếp đó là tăng  cường chức năng lớp bó và lớp lưới của vỏ thượng thận.

Giải phẫu bệnh:

+ Tại thượng thận: có thể do u vỏ thượng thận hoặc cường sản lớp bó là chủ yếu có thể có cả lớp lưới (gây cường tiết androgen). Phì đại từng vùng tế bào bêta của đảo tụy.

+ Tại tuyến yên: có thể có u hoặc cường sản tế bào bêta (tế bào ái kiềm).

Vi thể: có thể thấy thoái hoá các tế bào thần kinh vùng hypothalamus nhất là các nhân trên thị và nhân cạnh thất.

+ Teo tuyến sinh dục.

+ Có thể thấy hình ảnh của vữa xơ các động mạch lớn, nhỏ.

+ Thâm nhiễm mỡ gan.

+ Dãn da, có thể đứt các sợi đàn hồi, sợi collagenose.

Chẩn đoán Bệnh Cushing

Chẩn đoán chung

Toàn thân: Thay đổi hình thể, béo phì với sự phân bố mỡ đặc trưng ở mặt, ở thân người nhiều hơn tứ chi, tăng cân, tăng huyết áp.

Da và tổ chức liên quan: Mặt tròn đỏ, rạn da, rậm lông, trứng cá, thâm tím da.

Cơ xương: Yếu cơ, teo cơ, mệt mỏi, loãng xương.

Sinh dục:Rối loạn kinh nguyệt, mất kinh, âm vật to.

Tâm thần: Trầm cảm và thay đổi nhân cách.Có thể đau đầu, giảm trí nhớ, kém tập trung. Rối loạn chuyển hoá: đái tháo đường, rối loạn dung nạp glucose ,sỏi thận.

Đường máu tăng.

K+, Cl- huyết tương giảm.

17- hydroxycortico-steroid nước tiểu/24 h tăng.

Siêu âm thượng thận: có thể phát hiện được khối u (hội chứng Cushing).

X quang: hố yên rộng (bệnh Cushing).

CT-Scanner, MRI tuyến yên và thượng thận sẽ cho chẩn đoán chắc chắn nếu có khối u                 

Triệu chứng lâm sàng

- Béo phì: là triệu chứng hay gặp nhất, bệnh nhân có thể tăng cân rất nhanh, nhưng có thể tăng cân ít, hoặc có bệnh nhân không tăng cân (hiếm gặp hơn).

Béo chủ yếu ở mặt (mặt tròn, đỏ như mặt trăng rằm), ngoài ra lớp mỡ dưới da tăng tích tụ ở bụng, ngực, cổ, sau gáy có bờm mỡ dưới da trông giống lưng con lạ đà. Ngược lại chân tay khẳng khiu (mỡ ít tập trung ở vùng này).

- Mụn trứng cá ở mặt và ở toàn thận. Lông nách, lông mu mọc nhiều, đôi khi nữ giới có nhiều ria mép giống đàn ông. Nguyên nhân do tăng tiết nhiều andogen.

- Da khô thành từng mảng, dễ xuất huyết khi va chạm, vết rạn da màu tím hồng (stria) nằm sâu dưới da, thường xuất hiện ở bụng, dưới vú, mặt trong đùi, ít gặp hơn ở nách  và chi trên, mỗi vết rạn 2-3cm, có thể 5-10cm.

Xạm da có thể gặp thường do tăng tiết kích hắc tố (cường tiết MSH) hoặc do tiết ACTH như trong các bệnh lý ung thư.Sung huyết các mao mạch ngoại vi, làm mặt đỏ, chân tay nổi vân tím, da bẩm.

-Trẻ lên cân nhiều, tốc độ nhanh, trong khi đó sẽ ngừng lớn, với bệnh Cushing và ít rõ hơn trong hội chứng Cushing, nên có đặc trưng trẻ béo tròn và thấp lùn

Rậm lông tóc: Tóc dày, chân tóc thấp, lông mày rậm, nhiều lông tơ ở mặt, ở thân mình, có thể mọc râu, ria mép, lông nách và lông sinh dục ở trẻ lớn. Ở trẻ nhỏ có dấu hiệu dậy thì sớm như mọc lông mu, râu mép. Với trẻ lớn thì chậm phát triển dậy thì như không có kinh, tuyến vú kém phát triển, tinh hoàn ấu trĩ, dương vật không to lên.

-Tăng huyết áp gặp hầu hết ở bệnh nhân có bệnh Cushing, 70- 80% tăng huyết áp thường xuyên liên tục.Huyết áp cao, cả 2 thì tâm thu và tâm trương tuổi càng trẻ HA càng cao nhiều hơn là bệnh Cushing >200/100mm Hg huyết áp cao lâu ngày có thể đưa đến các biến chứng: mắt, thận, não, tim... Gây tàn phế và tử vong.

- Teo cơ hoặc yếu cơ gốc chi: teo cơ nguyên  nhân là do giảm tổng hợp hoặc tăng dị hoá protid, còn nguyên nhân dẫn đến yếu cơ gốc chi là do hạ K+ máu.

- Đau xương do thưa xương: thường thấy ở cột sống, xương sườn, các xương dài, có khi gãy xương hoặc xẹp đốt sống.

- Tiêu hoá: tăng tiết axit clohydric và pepsin của dạ dày nên thường hay bị loét dạ dày, hành tá tràng (đa toan, đa tiết).

- Hô hấp:do cortisol làm giảm sức đề kháng của cơ thể nên bệnh nhân dễ bị lao phổi, viêm phổi, nhiễm trùng khó liền, dễ bị nhiễm khuẩn huyết.

- Thận: dễ bị sỏi thận do tăng  đào thải ion Ca+ qua đường niệu nên dễ gây lắng đọng ở đường tiết niệu dẫn đến sỏi.

- Rối loạn sinh dục: liệt dương, hoặc thiểu năng sinh dục ở nam giới, ở nữ có thể rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh.

- Có thể có ăn nhiều, khát  và uống nhiều, có biểu hiện của đái tháo đường, đường máu tăng.

- Tâm thần kinh: lo âu, trầm cảm, rất sợ bệnh, giảm trí nhớ, dễ cáu gắt, hưng phấn, loạn thần...

Xét nghiệm lâm sàng

+ Tăng đường huyết lúc đói gặp ở 10- 20% trường hợp, đường niệu (+).

+ Một số ít trường hợp có thể thấy hồng cầu tăng, huyết sắc tố tăng, dung tích hồng cầu tăng, canxi máu bình thường, canxi niệu tăng.

+ Ion K+ và Cl- giảm.

+ Các xét nghiệm hormon:

- Cortico-steroid máu tăng.

- 17-hydroxycortico-steroid nước tiểu 24 giờ: tăng.

- 17-cetosteroid nước tiểu 24 giờ: tăng rất cao khi có khối u ác tính (carcinoma) vỏ thượng thận, có thể giảm hoặc bình thường khi có u lành (adenoma), trong cường sản vỏ thượng thận có thể bình thường hoặc hơi tăng.

+ X quang thượng thận:

- Chụp bơm hơi sau phúc mạc hoặc chụp thận có bơm thuốc cản quang có thể phát hiện thấy khối u thượng thận.

- Chụp CT-Scanner (cắt lớp vi tính) có thể phát hiện thấy u tuyến thượng thận.

+ Chụp cộng hưởng từ (MRI): khi khối u nhỏ, có thể đo được kích  thước và vị trí của khối u.

+ Chụp hố yên: có thể thấy hố yên giãn rộng (bệnh Cushing).

+ X quang cột sống và xương chậu: có thể thấy hình ảnh loãng xương, xẹp đốt sống.

+ X quang thận thường: có thể thấy hình ảnh sỏi thận-tiết niệu.

+ X quang tim-phổi: thất trái giãn (nếu tăng huyết áp lâu ngày), hoặc hình ảnh của lao, viêm phổi.

+ Điện tim: có thể thấy dày thất trái, sóng T thấp, dẹt, có thể thấy xuất hiện sóng U do hạ kali máu.

+ Siêu âm thượng thận có thể phát hiện khối u một hoặc cả hai bên.

+ Các xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt giữa hội chứng Cushing và bệnh Cushing:

-  Đo ACTH bằng miễn dịch phóng xạ:

. Định lượng ACTH: nếu dưới 5pg/ml có thể chẩn đoán u tuyến thượng thận, hội chứng Cushing do thuốc hoặc cường sản vỏ thượng thận.

Nếu ACTH tăng > 10pg/ml có thể nghĩ tới u tuyến yên hay khối u ở nơi khác làm tăng tiết ACTH.

Nghiệm pháp ức chế bằng dexamethason liều cao: ngày đầu tiên lấy nước tiểu 24 giờ, xét nghiệm cortisol tự do, 17 hydroxycortico-steroid và đo một mẫu cortisol máu lúc 8 giờ. Ngày thứ 2 và 3 cho bệnh nhân uống dexamethason 2mg/ 6 giờ; có 2 khả năng sẽ xảy ra:

Nếu là  bệnh Cushing khi cortisol máu, 17- hydroxycortico-steroid nước  tiểu/24 giờ giảm từ 50% trở lên.

Nếu là hội chứng Cushing khi các xét nghiệm trên không giảm.

Cần chụp cắt lớp điện toán hoặc cộng hưởng từ (MRI) thượng thận hoặc tuyến yên để chẩn đoán xác định một cách chắc chắn nếu có khối u.

Chẩn đoán nguyên nhân

Bệnh Cushing

- Hố yên rộng (bình thường 1 X 1,2 cm).

- Nghiệm pháp ức chế bằng dexamethason liều cao ức chế được.

- Chụp CT phát hiện quá sản thượng thận 2 bên.

- Lâm sàng và xét nghiệm đặc hiệu phù hợp.                               

Adenoma thương thận

- Lâm sàng và xét nghiêm điển hình.

- Thăm dò hình thể tuyến thượng thận phát hiện khối u.

- Nghiệm pháp ức chế bằng dexamethason liều cao không ức chế được.

- Hố yên bình thường.

Ung thư thượng thận

- Lâm sàng diễn biến nhanh và nặng, đặc biệt rậm lông và gẫy sút.

.- Khối u tuyến thượng thận một bên lớn (> 6cm).

- Phosphatase kiềm tăng.

- Có di căn.

- Hố yên bình thường.

- Nghiệm pháp ức chế bằng dexamethason liều cao không ức chế được.

Hội chứng ACTH ngọai sinh

- Có ung thư nguyên phát ngoài thượng thận (Gan, phổi, tỏ cung ...)

- Diễn biến lâm sàng nhanh, nặng, đôi khi có sạm da.

- Di căn ung thư.

- Nghiệm pháp ức chế bằng dexamethason liều cao kém đáp ứng.               

Chẩn đoán phân biệt

Nghiện rượu cũng có thể có tăng cortisol huyết và có lâm sàng tương tự như bệnh cushing. Cortisol tự do nước tiểu bình thường.

Béo phì: có vết rạn da nhưng cortisol tự do nước tiểu bình thường.

Phụ nữ có thai.

Biến chứng bệnh Cushing:                                                                        

Nếu bệnh Cushing không được điều trị kịp thời, các biến chứng khác có thể xảy ra, chẳng hạn như: Loãng xương, do các tác hại của cortisol quá mức. Tăng huyết áp, sỏi thận, tiểu đường, nhiễm trùng thường xuyên hoặc bất thường.

Giảm khối lượng cơ và sức mạnh: gãy xương, sập đốt sống. Khi nguyên nhân là một khối u tuyến yên đôi khi nó có thể dẫn đến các vấn đề khác như can thiệp vào việc sản xuất kích thích tố khác mà tuyến yên điều khiển. Khối u tuyến yên lớn có thể gây giảm thị lực, mù, tăng áp lực nội sọ. Sạm da do cắt thượng thận hai bên (hội chứng Nelson)

Dự phòng

-Khi dùng lâu dài corticoid phải có bác sĩ chuyên khoa theo dõi thường xuyên để xử trí kịp thời nếu xảy ra tác dụng có hại. Không được tự ngừng thuốc corticoid đột ngột, nhất là những trường hợp đang dùng liều cao hoặc đã dùng thuốc trong thời gian dài vì có nguy cơ gây suy thượng thận cấp nặng, dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

-Nên dùng corticoid với liều thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất theo yêu cầu điều trị đủ có tác dụng. Dùng các thuốc thay thế khác ngay khi có thể.

-Cần kết hợp với chế độ ăn uống hợp lí đủ canxi và vitamin D chống lại sự mất mật độ xương thường xảy ra với bệnh Cushing.

-Theo dõi sức khỏe tâm thần . Trầm cảm có thể là một tác dụng phụ của bệnh cushing, nhưng nó cũng có thể tồn tại hoặc phát triển sau khi bắt đầu điều trị. Tìm sự giúp đỡ kịp thời từ bác sĩ hoặc bác sĩ chuyên khoa nếu bệnh nhân chán nản, choáng ngợp hoặc gặp khó khăn trong việc đối phó trong quá trình phục hồi BN.                     -Nhẹ nhàng làm dịu cơn đau nhức.Phòng tắm nước nóng, massage và các bài tập tác động thấp, như thể dục nhịp điệu nước và tai chi, có thể giúp làm giảm bớt một số các cơ bắp và đau khớp đi kèm với bệnh cushing. 

Chữa Bệnh Cushing bằng đông y

(皮质醇增多症)

Đông y cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh là do tình chí tổn thương. Vật chất cơ bản để hoạt động tình chí là tinh khí của năm tạng phủ trong cơ thể, mặt khác sự bất thường về mặt tình chí ảnh hưởng đến công năng hoạt động của năm tạng phủ dẫn đến âm dương thất điều khí huyết bất túc kinh lạc không lưu thông bị ắc tắc trở trệ công năng của tạng phủ thất thường dẫn đến sự phát sinh bệnh.  

Biện chứng triệu chứng lâm sàng của bệnh cushing theo y học cổ truyền thuộc phạm trù Thuỷ Thủng, Phì Bàng (Béo Phì), Tự Hãn, Đạo Hãn, Thất Miên, Bất Mỵ... Ngoài biện chứng về hư thực thì công năng của ba tạng can tỳ thận bị suy giảm nhiều nhất. Có thể phân tích sự suy giảm công năng của ba tạng theo cơ chế bệnh lí như sau  Thận là gốc của tiên thiên, thận tàng tinh, chủ mệnh môn hỏa, là nguồn năng lương và cơ sở vật chất của sự sống, thúc đẩy sự sính trưởng và phát dục. Do mệnh môn hỏa suy, năng lượng khí hóa thiếu hụt nên bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối lạnh, mệt mỏi, tinh thần suy sụp, sinh lý yếu kém, sắc tố lắng đọng thành xạm đen. Tinh suy nguyên âm không đủ để nuôi cơ thể nên thể trạng âm hư, người gầy sụt cân, da xạm khô, ù tai, hoa mắt, ngủ ít, hay quên, lòng bàn chân tay nóng. Can thận đồng nguyên, thận tinh hư thì can âm huyết cũng thiếu nên chóng mặt ù tai, tóc khô rụng, chân tay tê dại cơ giật run, tinh thần khó tập trung dễ bị kích động, can khí uất khí trệ sinh huyết ứ. Tỳ chủ vận hóa, thận dương không đủ thì tỳ dương phải thiếu nên người chân tay mệt mỏi,ăn kém, rối loạn tiêu hoá. Vì vậy trên lâm sàng hay gặp những thể bệnh tỳ thận dương hư, can uất đàm trọc, âm hư hoả vượng, thận thực tinh ủng, can dương thượng khang.

Biện chứng phân thể trị liệu:

Thận thực tinh ủng

Triệu chứng:

Sắc mặt đỏ mặt như hình mặt trăng tròn bì phu rậm lông cứng không nhuận, bụng có cảm giác chướng mãn đầy tức lan ra phía sau , lưng gối đau mỏi đại tiện khô kết kinh nguyệt ít hay bế kinh có thể đau nửa đầu chướng mãn phiền táo mất ngủ ,hay đói ăn nhiều rêu lưỡi vàng mỏng mạch sác có lực .

Pháp trị:

Tả thận tiết trọc

Phương dược:

Dùng bài đại thừa khí thang gia giảm

Đại hoàng 6g; Mang tiêu 6g; Hậu phác 6g; Chỉ thực 6g; Hà thủ ô 15g; Long đởm thảo 15g; Hoàng tinh 15g

Sắc uống mỗi ngày một thang ngày hai lần mỗi lần 300-400ml uống lúc bụng trống mỗi lần uống cho vào 2g mang tiêu một tuần uống 5 thang dừng hai ngày uống liên tiếp trong 8 tuần nghỉ hai tuần.

Nếu bệnh nhân có vết hằn tím rõ ràng gia đương quy , đan sâm . Nếu bệnh nhân đêm ngủ không ngon giấc gia chích viễn trí , toan táo nhân . Nếu tâm phiền không ổn định gia liên tâm , thiên trúc hoàng

Bài thuốc được dùng để điều trị trên 24 bệnh nhân bệnh nhân hài lòng 17 bệnh nhân 7 bệnh nhân có tiến bộ các bài thuốc thường dùng đại thừa khí thang , tả thận thang, tả thận đại hoàng tán.

Âm hư hoả vượng

Triệu chứng:

Đầu đau chướng kèm theo hoa mắt chóng mặt tinh thần hay phiền táo bất an ngủ ít mơ nhiều tim đập nhanh hay ra nhiều mồ hôi , miệng khát tiện bí cơ thể béo phì vú căng tức , mặt đỏ da mỏng lông tóc mọc nhiều thô cứng lòng bàn chân bàn tay nóng thích mát lạnh sợ nóng đại tiện khô kết kinh nguyệt bế tắc lưỡi đỏ rêu ít mạch huyền tế sác

Pháp trị:

Tư âm tiềm dương thanh tả tương hoả

Pháp dược:

Dùng bài tri bá địa hoàng hoàn gia giảm

Tri mẫu 10g; hoàng bá 8g; sinh địa 20g; cẩu kỷ tử 12g; sơn anh nhục 6g; hoàng tinh 20g; đan bì 12g; long đởm thảo 9g; câu đằng 12g; đan sâm 20g; cúc hoa 9g; dạ giao đằng 9g.

Sắc uống ngày 1 thang ngày chia làm 2 lần.

Nếu tâm phiền bất an gia chích viễn trí , toan táo nhân. Nếu đầu đau chướng mãn gia thạch quyết minh . Nếu đại tiện khô kết gia uất lý nhân ,đại hoàng. Nếu miệng đắng họng khô gia hoàng cầm thạch hộc mỗi ngày một thang sắc uống ngày hai lần.

Một số bài thường dùng trên lâm sàng như long đởm tả can thang , kỷ cúc địa hoàng hoàn, thanh nguyên thang.

Can uất đờm trọc

Triệu chứng:

Cơ thể bị phù bì phu mỏng sáng bóng ấn lõm ngực bụng đầy tức chướng mãn,tim đập nhanh khí đoản đại tiện táo tiểu ít đầu đau chướng kèm theo hoa mắt chóng mặt tinh thần mệt mỏi uỷ mị hay có cảm giác buồn ngủ kinh nguyệt ra lượng ít có khi bế kinh rêu lưỡi trắng dính lưỡi to đại mạch huyền hoạt

Pháp trị

Sơ can giải uất hoá đờm khứ ứ

Pháp dược:

Dùng bài sài hồ sơ can thang gia giảm

Sài hồ 10g; chỉ thực10g; hậu phác 10g; đẳng sâm 15g; bạch truật 10g; bán hạ 8g; trần bì 8g; phục linh15g; trạch tả 15g; đan sâm 20g; sinh địa 20g; 

Sắc uống mỗi ngày một thang ngày uống hai lần

Nếu đau đầu hoa mắt chóng mặt gia xuyên khung cúc hoa , miệng đắng tâm phiền gia long đởm thảo hoạt thạch, đại tiện khô táo gia uất lí nhân đại hoàng,có nhiều vết hằn bang màu tím gia xuyên khung xích thược , ngực sườn đầy tức khí uất trệ gia hương phụ phật thủ phiến , tay chân mềm cơ nhục nhão gia đương quy đổ trọng. Nếu thấp uất hoá nhiệt rêu lưỡi vàng gia trúc nhự hoàng cầm, kiêm can thận âm hư gia hoàng tinh bạch thược.

Tỳ thận dương hư

Triệu chứng:

Sắc mặt ủ rủ mặt tròn đau đầu hoa mắt vô lực hay có cảm giác gai rét sợ lạnh thần mệt mỏi tay chân mềm nhũn không có lực ,hoang mang tim đập nhanh ra mồ hôi như tắm , ăn ít có lúc không muốn ăn đại tiện ít tiểu tiện nhiều liệt dương giảm ham muốn tình dục bì phu rậm lông thoái hoá xương khớp sớm rêu lưỡi mỏng lưỡi đạm mạch trầm tế nhược.

Pháp trị

Ôn bổ tỳ thận

Pháp trị

Dùng bài chân vũ thang gia giảm

Phụ tử 10g; đẳng sâm 20g; bạch truật 10g; trần bì 10g; khương bán hạ 10g; đại phúc bì 10g; ý dĩ nhân 20g; can khương 6g; chích cam thảo 6 g;  táo đỏ 4 quả .

Sắc uống ngày 1 thang ngày chia làm 2 lần.

Nếu âm dương lưỡng hư gia mạch đông sinh địa hoàng tinh . Nếu dương hư ra mồ hôi nhiều gia mẫu lệ long cốt . Nếu bụng đầy tức chướng mãn gia binh lang mộc hương . Nếu kinh nguyệt ít hay bế kinh gia đương quy thục địa

Can Dương Thượng Khang:

Triệu chứng:

Béo phì, mặt đỏ, choáng váng, chớng mặt, tinh thần uể oải, tai ù, họng khô, mau đói, lưng đau, gối mỏi, chân tay tê, lưỡi đỏ, rêu lưỡi nhạt, mạch Tế Sác.

Pháp trị:

Tư âm, tiềm dương.

Pháp dược:

Dùng bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia vị:

Câu đằng 15g, Ngưu tất, Thục địa đều 12g, Cát căn, Sơn dược, Sơn thù, Phục linh đều 9g, Đơn bì, Trạch tả đều 6g. Sắc uống.

Béo phì quá, thêm Hà thủ ô, Quyết minh tử đều 12g.

Bừng nóng nhiều thêm Hoàng bá, Tri mẫu đều 9g. Tinh thần uể oải, ù tai thêm Thạch xương bồ 9~12g. Khát, họng khô thêm Lô căn , Thiên hoa phấn đều 12g.

Mau đói thêm Thạch cao 15g, Tri mẫu 9g.

Lưng đau, gối mỏi, chân yếu thêm Hà thủ ô, Tang ký sinh đều 9g.

Mất ngủ thêm Dạ giao đằng, Toan táo nhân đều 15g.                                                        

Bài thuốc chuyên trị:

Hoàng tinh đại thừa khí thang gia vị

Đại hoàng 6g; mang tiêu 6g; hậu phác 6g; chỉ thực 6g; thủ đầu ô 15g; long đởm thảo 15g; hoàng tinh 15g;

Sắc uống ngày một thang uống ngày 3 lần lúc bụng trống mỗi tuần uống 5 thang điều trị sau 8 tuần nghỉ 2-3 tuần trong một liệu trình. Hiệu quả điều trị theo dõi khi sử dụng bài này trên 7 bệnh nhân sau 2-6 liệu trình có hiệu quả tốt 6 bệnh nhân có tiến bộ 1 bệnh nhân . Sau một năm gặp lại hỏi bệnh tuỳ ý 5 bệnh nhân trong đó có 1 bệnh nhân tái phát.

Chỉ thực tiêu bĩ hoàn chỉ thực 15g hậu phác 10g đẳng sâm 15g bạch truật 10g lai phục tử 15g trạch tả 10g sơn tra 30g thủ đầu ô 30g đại hoàng 15g. Gia giảm đau đầu hoa mắt gia xuyên khung 10g cúc hoa 10g , đại tiện khô táo khó đi gia mang tiêu 15g. Sắc uống mỗi ngày một thang ngày 2 lần mỗi lần từ 200-300ml điều trị từ 2-4 tháng bệnh nhân giảm béo phì rõ rệt mỡ trong máu trở về bình thường.

Điều Trị Bệnh Cushing Theo Tây Y

 Điều trị nội khoa

Điều trị bằng thuốc:

Bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật hoặc tia xạ có thể áp dụng điều trị bằng thuốc:

*Thuốc ức chế tiết cortisol Ketoconazol (Nizoral) 200mg/8 giờ/lần. Dùng thuốc này phải kiểm tra chức năng gan thường xuyên.

* Metyrapon: ngày 2g chia hai lần, tăng liều điều trị phụ thuộc vào đáp ứng lâm sàng.

* Aminoglutethimid: 250 mg, Ngày uống 2- 3 lần.

* Một số thuốc khác: mifepriston, octreotid, etomidat.

Điều trị triệu chứng:

Nếu có đái tháo đường cho các thuốc hạ đường huyết như insulin, diamicron; có tăng huyết áp phối hợp các thuốc hạ áp như nifedipin, coversyl...

Nếu bệnh nhân có béo cần phải điều chỉnh chế độ ăn hàng ngày như: ăn giảm glucid (nếu có đái tháo đường), hạn chế ăn mỡ động vật để tránh vữa xơ động mạch.

Dùng tia X vào tuyến yên hoặc thượng thận

Dùng Cobalt 60 hoặc Yttrium 90 đặt vào hố yên

DDD (Ortho paraprime dichloro - diphenyl dichlorethane); 10mg/ngày giảm dần xuống 3mg/ngày trong 15 ngày.

Aminoglutemid (Orimetene) 0,250: vài ngày đầu mỗi ngày 1 viên tăng dần tới 3-4 viên ngày.

Trong khi điều trị DDD và Orimetene phải điều trị phôi hợp Cortison

 Điều trị ngoại khoa:

+ Nếu có khối u thượng thận hoặc tuyến yên thì phẫu thuật cắt bỏ khối u là tốt nhất.

Nếu là khối u lành tính (adenoma) thì sau phẫu thuật các triệu chứng hết dần và khỏi hoàn toàn,nếu là khối u ác tính (carcinoma) chưa di căn nên phẫu thuật sớm thường có tiên lượng tốt hơn.

+Sau phẫu thuật, chức năng tuyến yên sẽ phục hồi trở lại, ít để lại di chứng. Tuy nhiên bài tiết hormon CRH phục hồi chậm hơn, khoảng 36 tháng mới có thể trở về bình thường. Do đó cần phải điều trị thay thế bằng Hydrocortison.

+ Cắt thượng thận hai bên toàn phần hoặc bán phần. 

+ Tia xạ tuyến yên: chỉ định trong bệnh Cushing do u tuyến yên. thường phải 06 tháng sau mới có kết quả điều trị.

Adenoma thượng thận: chỉ định phẫu thuật tuyệt đối.

Ung thư thượng thận

Phẫu thuật cắt bỏ khối u và Phối hợp tia xạ trị liệu.

- OpDDD (Mitotan): đùng 6- 12 g/ngày chú ý kiểm tra chức năng gan thận.

Hội chứng ACTB ngoại sinh: khối u tiết ACTH nên cắt bỏ và phối hợp  điều trị nội khoa bằng Ketoconazol hoặc Mitotan hoặc phổi hợp cả hai.

Tiên lượng

- Tiên lượng tốt đối với adenome thượng thận sau khi phẫu thuật. Phải hết sức chú ý Có thể xuất hiện suy thượng thận cấp trong và sau phẫu thuật.

- Bệnh Cushing sau phẫu thuật tuyến yên, nói chung cho kết quả tốt, khoảng 10- 20% các trường hợp thất bại sau phẫu thuật và ngay cả các trường hợp tốt sau phẫu thuật vẫn có khoảng 15- 20% trường hợp tái phát sau 10 năm.

-Cắt thượng thận hoàn toàn hai bên sẽ dẫn tới hội chứng Nelson sau 5- 15 năm.

-Hội chứng ACTH ngoại sinh, tiên lượng phụ thuộc vào tình trạng di căn của khối ung thư.

 

Tham khảo ý kiến thầy thuốc

Thần dược cho người đột quỵ

Thực phẩm cho người tiểu đường

DANH SÁCH CÁC BỆNH

Bệnh hô hấp

Bệnh gan mật

Bệnh thần kinh

Bệnh tiêu hóa

Bệnh tiết niêu

Bệnh tim mạch

Bệnh hạch tuyến

Bệnh hầu họng

Bệnh mắt

Bệnh tai

Bệnh trẻ em

Bệnh phụ nữ

Bệnh Nam khoa

Bệnh ngoài da

Bệnh ung thư

Bệnh cơ xương khớp

Bệnh khi có thai

Bệnh phổi

Bệnh răng miệng

Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.comchỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.

. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH